Connect with us

Vĩnh Long 24h

thành phố Lào Cai – Người Kể Sử

Published

on

Lào Cai
Thành phố trực thuộc tỉnh
Thành phố Lào Cai.jpg

Thành phố Lào Cai về đêm

Địa lý
Tọa độ: 22°25′13″B 103°59′0″Đ / 22,42028°B 103,98333°ĐTọa độ: 22°25′13″B 103°59′0″Đ / 22,42028°B 103,98333°Đ
Diện tích 283 km² [1]
Dân số (2018)  
 Tổng cộng 173.840 người
 Thành thị 81.5%
 Nông thôn 18.5%
 Mật độ 611 người/km²
Dân tộc Kinh (76,4%), 25 dân tộc thiểu số
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Chính quyền  
 Chủ tịch UBND Nguyễn Văn Vịnh
 Chủ tịch HĐND Phạm Văn Cường
 Bí thư Thành ủy Nguyễn Hữu Vạn
Phân chia hành chính 12 phường, 5 xã
Số điện thoại 020.3820067
Số fax 020.3824700
Website http://egov.laocai.gov.vn/

Thành phố Lào Cai là một thành phố biên giới phía bắc, một đô thị loại 2, tỉnh lỵ của tỉnh Lào Cai [2][3].

Thành phố được thành lập vào năm 2004 trên cơ sở sáp nhập hai thị xã Lào Cai và Cam Đường. Thành phố Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai là nơi giao thương quan trọng ở phía bắc Việt Nam với phía nam Trung Quốc. Là địa đầu của đất nước, thành phố Lào Cai là cửa ngõ quan trọng mở cửa thị trường Việt Nam với các tỉnh phía tây nam Trung Quốc và cả các tỉnh nằm sâu trong nội địa Trung Quốc. Lào Cai là đô thị đông dân nhất khu vực miền núi phía Tây Bắc và tương lai là đô thị loại 1 đầu tiên của nơi núi rừng sâu thẳm này, xứng đáng là bộ mặt cho một Tây Bắc đang vươn mình trỗi dậy.

Địa lý

Thành phố Lào Cai giáp các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa cùng của tỉnh Lào Cai. phía bắc, thành phố giáp huyện Hà Khẩu châu tự trị dân tộc Hani và Yi Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Từ thành phố lên thị trấn du lịch Sa Pa theo Quốc lộ 4D chỉ chừng 40 km.

Thành phố Lào Cai có hai con sông chảy qua. Sông Nậm Thi chạy quanh phía bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với Trung Quốc. Nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước của thành phố. Sông Nậm Thi hợp lưu với sông Hồng ngay tại biên giới giữa thành phố Lào Cai và Trung Quốc. Sông Hồng sau khi được Nậm Thi hợp lưu thì chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam, mang lại nguồn phù sa màu mỡ cho đồng bằng sông Hồng. Thành phố Lào Cai nằm hai bên bờ sông Hồng. Các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới,… bắc qua sông nối hai phần của thành phố.

Lịch sử

Thành phố Lào Cai ra đời trên cơ sở hợp lại 2 thị xã là Lào Cai và Cam Đường, Hai thị xã này vốn chỉ nằm cách nhau 7 km theo đường chim bay, mỗi thị xã có một thế mạnh riêng: Thị xã Lào Cai có cửa khẩu Lào Cai nối liền tuyến liên vận quốc tế Hà Nội – Hải Phòng với các tỉnh phía Nam Trung Quốc, còn thị xã Cam Đường có ngành công nghiệp khai thác quặng Apatit số 1 của Việt Nam. Hai thế mạnh này càng củng cố sự phát triển của Lào Cai và đảm bảo một sự phát triển bền vững cho một đô thị có đầy tiềm năng cất cánh trong một tương lai gần.

Sau năm 1975, thị xã Lào Cai thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm 8 phường: Bắc Lệnh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Pom Hán, Thống Nhất, Xuân Tăng và 2 xã: Bắc Cường, Vạn Hòa.

Ngày 16-1-1979, chuyển xã Đồng Tuyển thuộc huyện Bát Xát và 2 xã: Cam Đường, Nam Cường thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.

Ngày 13-1-1986, chuyển 2 xã Hợp Thành và Tả Phời thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.

Ngày 12-8-1991, tỉnh Lào Cai được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ, thị xã Lào Cai trở lại là tỉnh lị tỉnh Lào Cai.

Ngày 29-8-1994, thành lập phường Phố Mới từ phần đất của phường Lào Cai và xã Vạn Hòa.

Ngày 30-11-2004, chuyển 2 xã Bắc Cường và Nam Cường thành 2 phường có tên tương ứng, thành lập phường Bình Minh từ phần đất của xã Cam Đường; chuyển thị xã Lào Cai thành thành phố Lào Cai và là đô thị loại III.

Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1975/QĐ-TTg công nhận thành phố Lào Cai là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lào Cai[4].

Dự kiến năm 2020, xã Cốc San và một phần xã Quang Kim thuộc huyện Bát Xát cùng với một phần xã Gia Phú thuộc huyện Bảo Thắng sẽ được sáp nhập vào thành phố Lào Cai, giải thể các phường Phố Mới và Thống Nhất để sáp nhập vào các phường, xã lân cận theo quy hoạch chung thành phố Lào Cai đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Khí hậu

Dữ liệu khí hậu của Lào Cai
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 31.4 34.6 38.0 38.1 41.0 40.1 39.7 40.0 36.8 37.2 33.2 31.5 41,0
Trung bình cao °C (°F) 20.1 21.3 25.3 28.8 32.1 32.7 32.7 32.4 31.3 28.7 25.1 21.9 27,7
Trung bình ngày, °C (°F) 15.7 17.0 20.7 24.2 27.0 27.9 27.9 27.5 26.3 24.0 20.2 17.0 23,0
Trung bình thấp, °C (°F) 13.3 14.5 17.9 21.1 23.6 24.7 24.9 24.4 23.3 21.2 17.5 14.3 20,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) 1.4 5.6 6.8 10.0 14.8 18.7 20.0 17.3 15.8 8.8 5.8 2.8 1,4
Giáng thủy mm (inch) 22
(0.87)
33
(1.3)
58
(2.28)
129
(5.08)
171
(6.73)
239
(9.41)
302
(11.89)
355
(13.98)
222
(8.74)
153
(6.02)
54
(2.13)
27
(1.06)
1.764
(69,45)
% độ ẩm 84.8 84.0 82.5 83.1 81.4 84.4 85.8 86.0 85.5 85.8 86.3 85.8 84,6
Số ngày giáng thủy TB 7.8 8.8 11.5 15.8 16.8 18.7 20.9 21.1 15.8 14.8 10.2 7.7 169,8
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 80 70 102 142 180 145 158 160 158 133 109 104 1.539
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[5]

Giao thông

Cầu đường sắt Hồ Kiều từ đầu thế kỉ 20

Thành phố Lào Cai cũng chính là ga cuối cùng của tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Từ đây người ta có thể chuyển tiếp sang Trung Quốc bằng đường bộ hoặc thậm chí bằng đường sắt bằng các chuyến tàu liên vận quốc tế. Ở phía bắc chỉ có 2 tỉnh duy nhất có được điều kiện thuận lợi này là Lạng Sơn và Lào Cai.

Về đường bộ, Quốc lộ 4D nối thành phố Lào Cai với các huyện bên cạnh là Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, với tỉnh Lai Châu và với Quốc lộ 32. Quốc lộ 4E và Quốc lộ 70 nối thành phố với các huyện phía đông nam của tỉnh và với các tỉnh ở phía nam. Toàn thành phố có tổng cộng hơn 20 tuyến đường, gồm có: Triệu Quang Phục, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Nguyễn Du, Đinh Bộ Lĩnh… vv.

Hành chính

Thành phố Lào Cai gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc. Đó là 12 phường: Bắc Cường, Bắc Lệnh, Bình Minh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Nam Cường, Phố Mới, Pom Hán, Thống Nhất, Xuân Tăng và 5 xã: Cam Đường, Đồng Tuyển, Hợp Thành, Tả Phời, Vạn Hoà.

Thành phố Lào Cai ra đời trên cơ sở hợp lại 2 thị xã là Lào Cai và Cam Đường, Hai thị xã này vốn chỉ nằm cách nhau 7 km theo đường chim bay, mỗi thị xã có một thế mạnh riêng: Thị xã Lào Cai có cửa khẩu Lào Cai nối liền tuyến liên vận quốc tế Hà Nội – Hải Phòng với các tỉnh phía Nam Trung Quốc, còn thị xã Cam Đường có ngành công nghiệp khai thác quặng Apatit số 1 của Việt Nam. Hai thế mạnh này càng củng cố sự phát triển của Lào Cai và đảm bảo một sự phát triển bền vững cho một đô thị có đầy tiềm năng cất cánh trong một tương lai gần.

Sau năm 1975, thị xã Lào Cai thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm 8 phường: Bắc Lệnh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Pom Hán, Thống Nhất, Xuân Tăng và 2 xã: Bắc Cường, Vạn Hòa.

Ngày 16-1-1979, chuyển xã Đồng Tuyển thuộc huyện Bát Xát và 2 xã: Cam Đường, Nam Cường thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.

Ngày 13-1-1986, chuyển 2 xã Hợp Thành và Tả Phời thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.

Ngày 12-8-1991, tỉnh Lào Cai được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ, thị xã Lào Cai trở lại là tỉnh lị tỉnh Lào Cai.

Ngày 29-8-1994, thành lập phường Phố Mới từ phần đất của phường Lào Cai và xã Vạn Hòa.

Ngày 30-11-2004, chuyển 2 xã Bắc Cường và Nam Cường thành 2 phường có tên tương ứng, thành lập phường Bình Minh từ phần đất của xã Cam Đường; chuyển thị xã Lào Cai thành thành phố Lào Cai và là đô thị loại III.

Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1975/QĐ-TTg công nhận thành phố Lào Cai là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lào Cai[4].

Phát triển

Hiện nay thành phố Lào Cai đã tiến hành kè dọc theo 2 bên sông Hồng, tạo ra một cảnh quan đẹp, là điểm nhấn cho thành phố. Khu vực giáp bờ phải sông Hồng ở phía bắc thành phố được quy hoạch phân lô để xây dựng các biệt thự. Phần nối giữa thị xã Lào Cai với thị trấn Cam Đường, trước đây chỉ là núi đồi bỏ hoang, giờ đây một khu đô thị mới – khu đô thị Lào Cai – Cam Đường đang được xây dựng để làm trung tâm mới của thành phố. Các cơ quan đầu não của tỉnh đã và đang chuyển về đây. Một con đường rộng 58 m với 4 làn xe, đại lộ Trần Hưng Đạo, đi giữa khu đô thị mới là điểm nhấn quan trọng của thành phố.

Trường học

Hiện nay thành phố Lào Cai có 23 trường tiểu học, 20 trường THCS và có 6 trường THPT tại thành phố.[cần dẫn nguồn]

Hạ tầng

Hiện nay trên địa bàn thành phố Lào Cai đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như khu đô thị Lào Cai – Cam Đường, khu đô thị Kosy Lao Cai, khu đô thị The Manor Eco Lao Cai…

Hình ảnh

Tham khảo

  1. ^ Tài nguyên thành phố Lào Cai (10/12/2008)
  2. ^ Thông tư 36/2013/TT-BTNMT ngày 30/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Danh mục địa danh… phục vụ công tác thành lập bản đồ phần đất liền tỉnh Lào Cai. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 25/12/2018.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 25/12/2018.
  4. ^ aăQuyết định 1975/QĐ-TTg năm 2014 công nhận thành phố Lào Cai là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lào Cai do Thủ tướng Chính phủ ban hành
  5. ^ “Vietnam Building Code Natural Physical & Climatic Data for Construction” (PDF). Vietnam Institute for Building Science and Technology. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018. 

(Nguồn: Wikipedia)

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Vĩnh Long 24h

Bài 26: Quang Trung xây dựng đất nước

Published

on

By

    – Năm 1771 : Dựng cờ khởi nghĩa, trở thành một trong ba lãnh tụ cao nhất của phong trào Tây Sơn.

    – Năm 1775 : Tổng chỉ huy xuất sắc trận đánh Phú Yên, tạo ra bước ngoặt quan trọng cho toàn bộ quá trình phát triển mạnh mẽ sau đó của phong trào.

    – Năm 1777 : Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ hai, lật đổ cơ đồ thống trị của họ Nguyễn.

    – Năm 1782 : Chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ tư, đánh cho Nguyễn Ánh đại bại.

    – Năm 1783 : Tổng chỉ huy cuộc tấn công vào Gia Định lần thứ năm, đuổi tập đoàn Nguyễn Ánh ra khỏi bờ cõi.

    – Năm 1785 : Tổng chỉ huy trận Rạch Gầm – Xoài Mút, đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược.

    – Năm 1786 : Tổng chỉ huy các đợt tấn công tiêu diệt chính quyền họ Trịnh.

    – Ngày 22/12/1788 : Lên ngôi Hoàng đế tại Núi Bân (Phú Xuân – Huế). Niên hiệu Quang Trung bắt đầu xuất hiện từ đây.

    – Năm 1789 : Tổng chỉ huy trận Ngọc Hồi – Đống Đa, quét sạch 29 vạn quân Thanh và bè lũ tay sai phản quốc Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi.

    – Từ 1789 đến 1792 : Ban bố Chiếu khuyến nông, Chiếu lập học, tiến hành những cải cách tích cực và táo bạo.

    – Ngày 15/9/1792 : Quang Trung đột ngột qua đời, để lại niềm thương tiếc khôn nguôi cho lớp lớp những thế hệ người Việt Nam yêu nước.

* Đường lối ngoại giao của Vua Quang Trung:

    – Đối với Lê Duy Chỉ ở phía Bắc, Nguyễn Ánh ở Gia Định: Kiên quyết tiến quân đánh dẹp (tiêu diệt).

    – Đối với nhà Thanh: Mềm dẻo nhưng cương quyết bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc .

* Ý nghĩa chính sách ngoại giao:

    – Tránh cho đất nước bị chia cắt, chiến tranh.

    – Bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, tạo sự hòa hiếu láng giềng với nhà Thanh.

a. Kinh tế:

* Nông Nghiệp:

    – Ban hành Chiếu khuyến nông để giải quyết tình trạng ruộng đất bỏ hoang và nạn lưu vong.

    – Kết quả: Mùa màng trở lại phong đăng. Cảnh thái bình đã trở lại.

* Thủ công nghiệp và thương nghiệp:

    – Bãi bỏ hoặc giảm nhiều loại thuế.

    – Mở cửa ải thông chơi búa.

    – Kết quả: Hàng hóa lưu thông không bị ngưng đọng. Nghề thủ công và buôn bán được phục hồi dần.

b. Phát triển văn hóa dân tộc:

    – Ban bố Chiếu lập học.

    – Dùng chữ Nôm lám chữ viết thức của nhà nước.

    .- Lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, làm tài liệu học tập.

    – “Mở cửa ải” để buôn bán trao đổi hàng hóa với các nước.

    – “Thông chợ búa” để nhân dân trong nước mua bán trao đổi sản phẩm với nhau.

    → Buôn bán trong và ngoài nước phát triển, tạo điều kiện cho thủ công nghiệp phát triển. Thủ công nghiệp phát triển tạo điều kiện cho thương nghiệp phát triển.

Rate this post
Continue Reading

Vĩnh Long 24h

Chu Nguyên Vương: Cơ Nhân – Lịch sử Trung Quốc

Published

on

By

Chu Nguyên Vương tên thật là Cơ Nhân. Con của Chu Kính Vương. Kế vị sau khi Kính Vương chết. Trị vì 7 năm, bị bệnh chết. Mai táng ở ngoại ô Bất Minh.

Năm sinh, năm mất: ? TCN – 469 TCN

* Năm mà Cơ Nhân lên kế vị (475 TCN), lịch sử Trung Quốc bước vào thời kỳ Chiến Quốc.

Trong thời gian Cơ Nhân trị vì, sau khi Việt Vương Câu Tiễn diệt xong nước Ngô, đã dẫn đại quân vượt qua sông Hoài Hà, mở đại hội liên minh ở đất Thư (nay thuộc tỉnh phía Nam huyện Đằng tỉnh Sơn Đông), tham gia đại hội gồm có các nước: Tề, Tấn, Lỗ, Tống. Sau đại hội, Câu Tiễn sai người mang cống phẩm đến cho Cơ Nhân, Cơ Nhân cũng tặng lại Câu Tiễn thịt để cúng tế tổ tiên và sắc phong cho Câu Tiễn làm bá, thừa nhận địa vị Câu Tiễn là có khả năng thống lĩnh các nước chư hầu và công nhận Câu Tiễn trở thành bá chủ.

Năm 469 TCN, các thợ thủ công ở nước Vệ lại chịu không nổi sự áp bức kìm kẹp, nên đã nổi dậy khởi nghĩa lần thứ hai, đánh bại Vệ Chư Triếp, khiến Vệ Chư Triếp phải sống lưu vong ở bên ngoài, cuối cùng chết ở nước Việt. Hai lần nước Vệ xảy ra bạo động, khiến cho hai vị quốc quân: một người bị giết, một người chạy trốn, đủ cho thấy sự thống trị của chủ nô lệ sắp bị sụp đổ.

Sau khi Cơ Nhân chết lập miếu đặt hiệu là Nguyên Vương.

Đế Vương Trung Hoa,

Rate this post
Continue Reading

Vĩnh Long 24h

Nguyễn Minh Không(1065 – 1141)

Published

on

By

Là một thiền sư giỏi về phật pháp giỏi cả pháp thuật có công chữa bệnh cho vua Lý là ông tổ của nghề đúc đồng, ông được tôn là Đức Thánh Nguyễn bênh cạnh danh hiệu Quốc Sư thời Lý.

Nguyễn Minh Không là một nhà sư tài danh lẫy lừng. Ông đã được coi là thần y khi chữa bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông và được ban quốc tính họ Lý, phong làm Quốc sư, được nhà vua cấp cho nhà ở, được miễn thuế má. Khi ông mất rồi được rất nhiều đền chùa thờ phụng. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Quốc sư Minh Không rất linh ứng. Phàm khi có tai ương hạn lụt, cầu đảo đều nghiệm cả.” Nguyễn Minh Không là hiện thân quyền lực linh thiêng của Phật giáo hưng thịnh thời Lý – là thầy thuốc tài ba bậc nhất, là ngư dân gắn bó với thôn dã Đại Việt, là thiền sư tài cao đức trọng, là bậc thánh tổ nghề đúc đồng Việt Nam.

Nguyễn Minh Không được các làng nghề đúc đồng suy tôn là ông tổ của nghề đúc đồng. Với vai trò là quốc sư triều Lý, ông tham gia gây dựng nhiều công trình phật giáo. Lý Quốc Sư là người đúc tượng phật chùa Quỳnh Lâm; đúc đỉnh đồng trên tháp Báo Thiên góp phần tạo nên “An Nam Tứ đại khí” là những báu vật nổi tiếng của nước Đại Việt thời Lý – Trần. Ông là người sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa của văn minh Đông Sơn – văn minh người Việt cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng.

Tên tuổi của Nguyễn Minh Không đã gắn liền với nhiều truyền thuyết hoang đường và kỳ bí. Rất nhiều nơi, đặc biệt là các chùa ở Việt Nam thờ vị quốc sư này theo kiểu “tiền phật hậu thánh”. Trong số các chùa, đền thờ quốc sư, tập trung nhiều nhất là các tỉnh Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình… Trong dịp lễ hội ở các đền thờ này, thường có tục bơi chải vào ngày hội, tục này chắc liên quan đến giai thoại nhà sư đi thuyền một đêm mà đến được Kinh đô.

Rate this post
Continue Reading

Trending

You cannot copy content of this page