Connect with us

Văn Hóa & Du Lịch

Thành Bản Phủ và vua An Dương Vương, húy Thục Phán trong lịch sử Việt Nam

Published

on








Vấn đề nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương và nước Âu Lạc là một trong những nội dung cốt lõi trong lịch sử Việt Nam, vì vậy từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước.

 Sơ đồ vị trí phân bố khu di tích kinh đô Nam Bình.

Trong quá trình nghiên cứu, các học giả đều ghi nhận: Nước
Âu Lạc kế tiếp nước Văn Lang và An Dương Vương kế ngôi vua Hùng là sự kiện,
nhân vật lịch sử có thật.

Song về nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương còn có ý kiến
khác nhau. Những tài liệu cổ ở Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng
Châu ký đều ghi An Dương Vương là “Thục vương tử” (con vua Thục). Sách Hậu Hán
thư chép về quận Giao Chỉ cũng chú thích: ‘‘Đấy là nước cũ của An Dương Vương
…”; một số sách cổ khác ở Trung Quốc cũng ghi rằng An Dương Vương là con vua Thục,
nhưng không cho biết xuất xứ cụ thể của vua Thục và vua Thục là ai.

Một số sử sách cổ của Việt Nam như: Việt sử lược (thế kỷ XIV) cũng ghi: ‘‘Cuối
đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp
thành Việt Thường (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay), xưng hiệu là An Dương
Vương, không thông hiếu với nhà Chu”.

Đến thế kỷ XV, khi biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô
Sĩ Liên dựa vào Lĩnh Nam chích quái chép về An Dương Vương rõ hơn và gọi là “Kỷ
nhà Thục”: “An Dương Vương họ Thục, tên huý là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50
năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa). Giáp Thìn, năm thứ nhất (257-TCN).
Vua đã kiêm tính nước Văn Lang đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”.

Nhà sử học Ngô Thì Sĩ (cuối thế kỷ XVIII) khi chép về An
Dương Vương cũng nhắc lại như Đại việt sử ký toàn thư, nhưng đã bác bỏ giả thuyết
An Dương Vương “họ Thục” và khẳng định: “An Dương Vương huý Phán, người Ba Thục.
Không đúng”.

Các sử gia từ thời phong kiến Việt Nam đã nghi ngờ cả thời
gian và không gian; qua đó có thể thấy rõ: nước Thục đã bị diệt từ năm 316 TCN.
Vua Thục cuối cùng là Khai Minh đã bị giết ở Vũ Dương và Thái tử con vua Thục
chết ở Bạch Lộc Sơn.

Vì vậy không thể có “con vua Thục” vượt hàng nghìn dặm núi rừng,
qua lãnh thổ của nhiều nước để tiến đánh và chiếm nước Văn Lang năm 257 TCN được.
Sự khác biệt dẫn đến mâu thuẫn đó càng làm rõ thêm những căn cứ đáng nghi ngờ,
cho nên có thể phủ định giả thuyết nguồn gốc Ba Thục của Thục Phán – An
DươngVương.

Năm 1963, các nhà nghiên cứu dân tộc học phát hiện truyền
thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (Chín chúa tranh vua) phổ biến trong đồng bào Tày
vùng Cao Bằng. Truyền thuyết cho biết: Cuối thời Hùng Vương, ở phía nam Trung
Quốc có một nước là Nam Cương, gồm miền Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và cả
vùng Cao Bằng ngày nay. Nước Nam Cương gồm 10 xứ mường, mường trung tâm vua ở,
nơi vua đóng đô gọi là Kinh đô Nam Bình (nay là Cao Bình thuộc xã Hưng Đạo,
thành phố Cao Bằng); còn 9 mường xung quanh do 9 chúa cai quản. Thục Chế làm
vua nước Nam Cương 60 năm, khi Thục Chế mất, con là Thục Phán còn ít tuổi nhưng
được thay thế vua cha làm vua.

Cả chín chúa mường đều đem quân về bao vây kinh thành đòi
nhường lại ngôi vua. Thục Phán thách 9 chúa đấu võ, ai thắng sẽ được nhường
ngôi vua, kết quả bất phân thắng bại, nên không ai được nhường ngôi vua. Thục
Phán lại bày ra cuộc đua tài; ai giỏi nghề gì làm nghề đó, hẹn 3 ngày 3 đêm thì
kết thúc, ai hoàn thành đúng hạn sẽ được làm vua.

Mỗi chúa một việc thách nhau: Đi lấy trống đồng, dùng cung bắn
trụi hết lá đa, làm một nghìn bài thơ, nhổ mạ bãi Phiêng Pha đem về cấy ở cánh
đồng Tổng Chúp, đóng thuyền rồng, đẽo đá làm guốc, nung vôi và làm gạch để xây
thành, lấy lưỡi cày mài thành trăm chiếc kim.

Thục Phán một mặt ký giao kèo để các chúa thi đấu, mặt khác
lại chọn chín cung nữ đủ tài sắc, văn võ kiêm toàn, lẻn đi theo các chúa, dùng
mỹ nhân kế để làm thất bại cuộc đua tài của họ. Kết quả là không chúa nào thắng
cuộc, Thục Phán vẫn giữ ngôi vua, các chúa đều quy phục.

 Nước Nam Cương trở nên cường thịnh. Lúc đó nước láng giềng Văn Lang của
vua Hùng suy yếu, lại đang đứng trước họa xâm lăng của nhà Tần, vua Hùng giao
quyền chỉ huy kháng chiến chống Tần cho Thục Phán.

Sau khi kháng chiến thắng lợi, Thục Phán được vua Hùng nhường
ngôi, Thục Phán đã sáp nhập hai vùng lãnh thổ Tây Âu và Lạc Việt thành lập nước
Âu Lạc, hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay).

Hiện nay ở Đền Hùng còn có di tích ghi lại sự kiện này, đó
là “hòn đá thề” ghi dấu tích về Thục Phán sau khi được vua Hùng truyền ngôi đã
thề: “Noi gương các vua Hùng quyết giữ vững cơ đồ Hùng – Thục”.

Cột đá thề tại đền Hùng, bản phục dựng theo nguyên gốc

Truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” còn được minh chứng bằng
các di vật và các địa danh cụ thể tại Cao Bằng, gắn liền với những câu chuyện
thi tài của các chúa như Tổng Lằn (trống lăn) ở xã Thịnh Vượng, Phiêng Pha ở xã
Mai Long (Nguyên Bình), Khau Lừa ở xã Bế Triều (Hoà An); cây đa cổ thụ ở Cao
Bình, đôi guốc đá khổng lồ ở gần Cao Bình, xã Hưng Đạo (Thành phố)… Giả thuyết
về nguồn gốc Thục Phán là người Cao Bằng còn được phản ánh trong các thần tích,
ngọc phả, trong các nghi thức thờ cúng.

Từ truyền thuyết trên, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung về Cao Bằng tìm hiểu
quê hương Thục Phán, và tin rằng Thục Phán là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc
người Tây Âu ở phía bắc nước Văn Lang, đó là nước “Nam Cương”…

Trong bài Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương, tác giả Nguyễn
Duy Hinh cho rằng Thục Phán là người đứng đầu một nhóm Lạc Việt, Tây Âu là một
nước của người Việt , do đó “xung đột Hùng – Thục thực chất là cuộc đấu tranh nội
bộ Âu Lạc”. Đến nay, nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương
Vương đều coi Thục Phán thuộc dòng dõi, tông phái hoặc là “cháu ngoại” của vua
Hùng.   

Qua những thư tịch và tư liệu, truyền thuyết trên, có thể khẳng định: Thục Phán
là người Tày cổ, là thủ lĩnh liên minh bộ lạc Tây Âu, trung tâm là Cao Bằng. Những
tập tục, truyền thuyết dân gian tại Cổ Loa và vùng xung quanh cũng phù hợp với
cách lý giải về nguồn gốc Thục Phán – An Dương Vương là người Tày cổ giống truyền
thuyết “Chín chúa tranh vua”, và trong tâm thức dân gian vùng Cổ Loa luôn ghi
nhớ nguồn gốc “người thượng du, một tù trưởng miền núi” của Thục Phán.

Thậm chí còn nói rõ quê gốc của Thục Phán – An Dương Vương
là Cao Bằng. Như vậy, không chỉ nhân dân Cao Bằng và các nhà khoa học khẳng định,
mà cả một phần nhân dân ở phía bắc Bắc Bộ, từ xa xưa đã coi Thục Phán – An
Dương Vương có quê gốc ở Cao Bằng.

Kinh đô xưa của nước Nam Cương vẫn còn dấu tích khá rõ nét.
Đó là kinh đô Nam Bình gồm có hai vòng thành, vòng ngoài có chu vi khoảng 5 km,
gồm cả một vùng gò đồi thấp, quanh chân đồi được bạt dựng đứng như một bức tường
thành, thuận lợi cho xây dựng phòng tuyến bảo vệ.

Bờ thành phía tây chạy song song với sông Bằng đến đầu làng
Bó Mạ, nối bờ thành Đông Nam chạy qua trước mặt Bản Phủ theo chân đồi ra gặp quốc
lộ 4, phía đông bắc chạy theo chân đồi phía ngoài quốc lộ 4, lên đến đầu gò là
phía tây bắc tiếp tục chạy theo chân đồi, ra đến bờ sông gặp bờ thành phía tây
tạo thành một vòng thành khép kín.

Vòng trong có thể gọi là “Hoàng cung”, nằm trên một khu đất bằng phẳng là Thành
Bản Phủ. Thành có chiều dài khoảng 110 m, chiều rộng gần 100 m. Phía trước
thành là hồ sen (trước đây rộng 7 ha) và cánh đồng Cao Bình, tiếp là cánh đồng
Tổng Chúp, trước đó gọi là cánh đồng Tổng Quảng (nghĩa là cánh đồng rộng), sau
cuộc đua tài của chúa Tiến Đạt chưa cấy hết (còn bằng cái nón) nên gọi là Tổng
Chúp.

Ngay chân thành là giếng ngọc, thường gọi là Bó Phủ. Gần Bản
Phủ là cây đa cổ thụ, tương truyền là chúa Kim Đán dùng cung tên bắn gần trụi hết
lá. Ra khỏi vòng thành ngoài, ở gần đầu gò còn có một đôi guốc đá khổng lồ chưa
kịp đục lỗ xỏ quai, đó là kết quả đua tài của chúa Văn Thắng; đi hướng lên Nước
Hai khoảng 1 km, ở bên phải có một quả đồi gọi là Khau Lừa (tức đồi thuyền),
theo truyền thuyết đó là con thuyền của Ngọc Tặng chưa kịp lật; đối diện với
Khau Lừa bên kia sông Bằng là thành Nà Lữ còn thiếu một cửa do cuộc đua tài của
Thành Giáng bị bỏ dở…; còn các chúa làm thơ, mài kim đều phải bỏ cuộc vì trúng
mỹ nhân kế của Thục Phán, để trống lăn xuống vực, nơi trống lăn gọi là Tổng Lằn.

Các địa danh, các câu chuyện gắn liền với cuộc thi vẫn còn in sâu đậm trong ký ức
nhân dân, và trong tâm thức nhân dân vẫn còn nhiều tập tục – có thể gọi là một
loại hình văn hoá tộc người lưu lại, liên quan đến Thục Phán – An Dương Vương
và thành Cổ Loa.

Đó là các biểu tượng Rùa vàng, Gà trắng, trong đó Gà trắng
phá hoại việc xây thành Cổ Loa, Rùa vàng giúp xây thành. Rùa vàng, Gà trắng có
thể gọi là những linh vật có ý nghĩa biểu tượng trong dân tộc Tày.

Nhân dân coi Rùa vàng là thần giúp sức, phù trợ nhân dân,
con rùa được quý trọng, tôn thờ. Con gà thì lại khác, biểu tượng gà là ‘‘vật ký
thác linh hồn”, đồng bào thường kiêng nuôi gà trắng, kiêng thịt gà trắng trong
những dịp lễ vui mừng…

Từ những quan niệm đó có thể thấy rõ sự tương đồng với những
chi tiết trong truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Tên gọi Tây Âu
trước đó là tên gọi bộ lạc Tày cổ, có thể do Tày hâu, Cần hâu hoặc Tày hây, Cần
hây biến âm mà thành.

Những năm 60 của thế kỷ trước, ở Cao Bằng còn lưu truyền “Slửa
nộc soa” tức áo lông chim trĩ, “Slửa nộc cốt” tức áo lông chim bìm bịp, “Slửa
cáy nhùng” là áo lông gà công.

Đó là những chiếc áo gần với chiếc “áo lông ngỗng” của Mỵ
Châu – con gái của An Dương Vương. Ngay cả Mỵ Châu cũng chính là biến âm của tiếng
Tày từ “Mẻ chủa” hay ‘‘Mẻ Chẩu” mà thành. Địa danh Cổ Loa đã được các nhà ngôn
ngữ – dân tộc học lịch sử phân tích nguồn gốc biến âm từ Kẻ Lũ; những địa danh
có tên “Kẻ” ở Cao Bằng như: gần Thành Bản Phủ bên kia sông Bằng có Kẻ Giẳng, Kế
Nông…; Cả Lọ, Co Lỳ tương ứng với Cà Lồ, Cổ Loa… Rất nhiều địa danh xung quanh
thành Cổ Loa và Bản Phủ có sợi dây liên hệ, đó là những chứng tích cho thấy rõ
sự liên quan giữa hai kinh đô Nam Bình, Cổ Loa của Thục Phán – An Dương Vương.
 

 Đó là quá trình phát triển hợp lý, liên tục, có tính kế thừa, góp phần
làm sáng tỏ và khẳng định giả thuyết: Thục Phán có nguồn gốc ở Cao Bằng đã đóng
đô ở Cao Bình và có công lớn đối với việc thành lập nước Âu Lạc, đóng góp vào
quá trình dựng nước và giữ nước trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử nước ta.
Nước Âu Lạc ra đời là một bước phát triển mới trong tiến trình lịch sử Việt
Nam.

Đinh Ngọc Viện

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Văn Hóa & Du Lịch

Đi du lịch Cần Giờ 1 ngày với loạt kinh nghiệm siêu HOT bạn có muốn thử?

Published

on

By


Nằm ngay gần Sài Gòn, Cần Giờ chính là cái tên hấp dẫn mà bạn không nên bỏ lỡ, nếu đang muốn đổi gió và tận hưởng chuyến du lịch 1 ngày với nhiều trải nghiệm thú vị.

Ở Sài Gòn nếu như muốn “ về vùng biển vắng” thì Cần Giờ và Vũng Tàu chính là hai địa điểm gần nhất, tuy nhiên nếu như muốn tiết kiệm thời gian và có thể khám phá được nhiều địa điểm hay ho, cảnh quan phong phú thì chắc chắn Cần Giờ chính là lựa chọn lý tưởng vì vừa có biển vừa có rừng. Đi du lịch Cần Giờ 1 ngày bạn sẽ có cơ hội  khám phá hàng tá thứ “xịn sò” lại còn thoải mái về thời gian khi nơi này nằm sát sàn sạt Sài Gòn. 

 

 Cần Giờ là điểm đến hấp dẫn cho chuyên vi vu 1 ngày từ Sài Gòn. Ảnh:@mja_phuong

Hướng dẫn di chuyển khi đi du lịch Cần Giờ 1 ngày

Cần Giờ chỉ nằm cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 50km, chỉ gần 2 tiếng chạy xe, nơi đây được coi là thiên đường của các loại hải sản thơm ngon và những cảnh rừng ngập mặn xanh mướt. Đường bờ biển dài 13km với bãi biển và hệ thống sông ngòi dày đặc mang đến cho Cần Giờ cảnh quan độc đáo. Nếu như bạn đang muốn đi du lịch Cần Giờ 1 ngày thì nên tranh thủ di chuyển từ sáng sớm để tránh kẹt xe cũng như có nhiều thời gian khám phá hòn đảo thú vị này. 

 

 Thời gian di chuyển từ Sài Gòn xuống Cần Giờ chỉ gần 2 tiếng. Ảnh:@kyubichann

Từ Sài Gòn bạn có thể di chuyển đến Cần Giờ bằng xe buýt hoặc phương tiện cá nhân. Nếu đi buýt bạn có thể bắt tuyến buýt số 75 tại khu vực công viên 29/3 đến thẳng Cần Giờ hoặc bạn bắt tuyến buýt 20 đến phà Bình Khánh. Bạn qua phà bắt tiếp tuyến buýt 90 đến thẳng Cần Giờ. Di chuyển bằng xe buýt có ưu điểm là bạn không cần tìm đường, tránh nắng nôi nhưng bạn cần chú ý giờ giấc tuyến cuối để kịp về thành phố. 

 

 Xe máy là phương tiện di chuyển linh hoạt nhất khi đi Cần Giờ. Ảnh:@xuyenxuyenxunu

Với phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe máy, việc đi du lịch Cần Giờ 1 ngày của bạn sẽ trở nên linh hoạt hơn.  Bạn xuất phát từ trung tâm thành phố đi theo hướng cầu Tân Thuận sau đó rẽ trái vào đường Nguyễn Văn Linh, tiếp tục đi vào đường Huỳnh Tấn Phát rồi chảy về hướng phà Bình Khánh. Một điều thú vị khi đi bằng xe máy là khi tới phà bạn có thể thoải mái dừng chân, ăn uống nghỉ ngơi trước khi lên phà, khu vực phà Bình Khánh có khá nhiều quán ăn ngon với mức giá chỉ từ 25.000đ. Lưu ý khi đi Cần Giờ 1 ngày bằng xe máy là bạn hãy chạy đúng tốc độ, đổ  xăng đầy bình và đừng quên chống nắng, giá vé qua phà Bình Khánh là 5.000đ/xe máy.

 

 giá qua phà Bình Khánh là 5000đ/xe máy. Ảnh: @tun.teppi

7 điểm đến Hot nhất để thăm quan Cần Giờ trong 1 ngày 

Đầm dơi nghệ

Địa điểm này nằm ở khu du lịch sinh thái Vàm Sát thuộc xã Lý Nhơn của huyện Cần Giờ. Dơi ở đây là giống giơi có bụng vàng, thân khá lớn và có sải cánh rộng lên đến 1 mét, là một trong những loại dơi hiếm trên thế giới. Ở đầm dơi nghệ, bạn sẽ được khám phá thế giới động vật hoang dã đầy thú vị, có thể ngắm những chú dơi treo mình vắt vẻo trên những ngọn đước rất lạ mắt.

 

 Đầm Dơi Nghệ là điểm đến rất hấp dẫn. Ảnh: vamsat

 

 Bạn cũng có thể đi dạo ngắm cảnh trong khuôn viên Vàm Sát. Ảnh:@phanduongtu

Tháp Tang bồng 

Địa điểm này cũng nằm bên trung khu du lịch sinh thái Vàm Sát, tháp Tang Bồng được làm bằng thép có chiều cao 26m với dạng cánh cung hướng thẳng lên trời. Ngọn tháp này có tất cả 4 tầng quan sát, bạn có thể lên tháp sau khi đi qua 130 bậc thang, từ đây có thể thoải mái chiêm ngưỡng cảnh sắc của toàn bộ rừng đước ngập mặn Cần Giờ từ trên cao.

 

 Từ tháp Tang Bồng có thể quan sát toàn bộ khu rừng ngập mặn. Ảnh:@hieuricky.

Khu Lâm viên đảo khỉ

Đây cũng là điểm đến hấp dẫn khi đi du lịch Cần Giờ 1 ngày, khu Lân viên đảo khỉ nẳm ở KDL Rừng Sắc thuộc xã Long Hòa, nơi đây là thiên đường của hơn 1500 cá thể khỉ hoang giã sinh sống trong cánh rừng ngập mặn. Khỉ ở đây rất dạn người và hiếu động chúng thường chải chuốt cho nhay và có những nếp sinh hoạt rất thú vị. Tuy nhiên, khi thăm quan bạn nên cẩn thận giữ kỹ tư trang bởi những chú “hầu” lém lỉnh có thể đột nhiên lấy mất một vài món đồ nếu bạn không để ý. 

 

 Khỉ khá thân thiện và dạn người. Ảnh:@mtephguillen

Khu căn cứ Cách mạng Rừng Sác

Điểm đến này nằm ở Di tích lịch sử Chiến khu Rừng Sác còn được biết đến với tên gọi là Lâm Viên Cần Giờ. Với diện tích 2000 ha, đây chính là nơi  Đội Đặc công Rừng Sác từng hoạt động và có những chiến công hào hùng. Hiện tại người ta sẽ xây dựng và tái hiện lại quang cảnh sinh hoạt và chiến đấu của các chiến sĩ đặc công xưa nên bạn có thể thăm quan và tìm hiểu thêm về một thời oai hùng của bộ đội ta tại Cần Giờ. 

 

 Một góc của khu Căn cứ Cách mạng Rừng Sác. Ảnh:@vynau

Chợ hải sản Hàng Dương

Là xứ biển sát Thành phố Hồ Chí Minh nên một khi đã đi du lịch Cần Giờ 1 ngày, chắc chắn bạn khó lòng bỏ qua cơ hội thưởng thức hải sản cũng như mưa về làm quà, chợ Hàng Dương chính là địa điểm bạn nên ghé thăm. Tại khu chợ này có rất nhiều loại hải sản tươi ngon, từ tôm, cua, cá mực cho đến các loại ốc, ghẹ, bạch tuộc… Giá cả tại đây khá mềm, chỉ từ vài chục đến vài trăm ngàn. Đặc biệt, ngoài mua mang về bạn có thể ăn trực tiếp tại khu hải sản chế biến sẵn với đủ món hấp dẫn như ốc len xào dừa, mực nướng sa tế, sò nướng mỡ hành, càng ghẹ sốt chua cay, …

 

 Khu hải sản chợ Hàng Dương rất đông đúc. Ảnh:@junzhao1911

 

 Các món chế biến sẵn cực kỳ háp dẫn. Ảnh:@annietaste

Lăng ông Thủy Tướng

Lăng ông thủy Tướng nằm ở đường Duyên Hải, thị trấn Cần Thạnh, đây là nơi cúng bái và tri ân Cá Ông loài cá chuyên cứu người khi đi biển theo quan niệm từ xa xưa. Lăng có trưng bày một bộ xương Cá Ông dài đến 12 mét được phục dựng từ năm 2001. Nếu đến Cần Giờ vào dịp rằm tháng 8 Âm Lịch bạn sẽ có cơ hội tham gia lễ hội truyền thống Nghinh Ông rất độc đáo. 

 

 Xương cá Ông trưng bày ở lăng ông Thủy Tướng. Ảnh:TH

Biển 30/4 

Đã đi du lịch Cần Giờ 1 ngày thì nhất định phải ra bãi biển, biển 30/4 là bãi biển lớn nhất ở Cần Giờ . Tại đây bạn có thể thoải mái hít hà gió biển, thả dáng chụp ảnh check-in tại con đường đá và cầu nổi của Phương Nam Cần Giờ resort để mang về những bức ảnh deep thần sầu. Bãi biển 30/4 không trong vắt như các bãi biển khác bởi nước nhiều phù sa, tuy nhiên bãi cát mịn với không gian đẹp chính là điểm cộng khiến nơi này được yêu thích. 

 

 Biển 30/4 rất đẹp và là điểm check-in hấp dẫn. Ảnh:@ruamin.

Nếu như có một ngày bỗng dưng bạn muốn “đổi gió” tạm rời xa những ồn ào, xô bồ ủa Sài Thành để về với biển và không gian xanh trong lành thì hãy kéo team và đi du lịch Cần Giờ 1 ngày nhé, nơi này chính là thiên đường tuyệt vời để bạn bung xã đứt phanh mà chẳng cần lên kế hoạch quá nhiều đấy. 

Hồng Thọ 

Theo Báo Thể Thao Việt Nam 

Rate this post
Continue Reading

Văn Hóa & Du Lịch

Di nguyện của vị Nữ tướng anh hùng Nguyễn Thị Định

Published

on

By








Là một nữ tướng nổi danh trên thế giới, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Định có ước nguyện được làm người lính theo hầu dưới trướng Hai Bà Trưng, thể hiện sự tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc và của người phụ nữ Việt Nam khi về với tiên tổ.

 Tự hào vì được hương khói cho những nữ anh hùng

Chúng tôi đến thăm đền Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội – nơi có đền
thờ Hai Bà Trưng và miếu thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định) đúng dịp rằm tháng Chạp
ngay trước Tết Nguyên đán Canh Tý 2020. 

Như những ngày lễ khác hằng tháng, sau khi đặt lễ, thắp
hương tưởng nhớ đến Hai Bà Trưng và bà Ba Định, bà Duy Thị Minh đứng lặng trước
tấm bia trong nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định đọc lại từng câu, từng chữ xen
lẫn niềm tự hào của người phụ nữ và cũng là người dân làng Hát Môn. Bà Minh tâm
sự: “Là người dân địa phương, chúng tôi tự hào lắm vì được tận tay hương
khói cho những vị nữ anh hùng hào kiệt của đất nước.

Cứ ngày rằm, mồng Một hay các ngày lễ Tết, ngày giỗ của Hai
Bà Trưng và bà Ba Định, chúng tôi đều sửa soạn lễ nhỏ kính dâng. Mấy năm nay tuổi
già, chân tôi thường bị đau nhức, đi lại rất khó khăn, nhưng tôi không thể bỏ
thói quen đến đền Hát Môn được”. 

Bà Minh chia sẻ, bà sinh ra và lớn lên tại thôn 1, làng Hát
Môn, nơi có dòng Hát Giang mà Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết. Tưởng nhớ công lao của
hai vị nữ anh hùng mở đầu cho trang sử đấu tranh giành độc lập suốt ngàn năm Bắc
thuộc, nhân dân địa phương đã lập đền thờ Hai Bà ngay tại mảnh đất này. Sau
này, nhà tưởng niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định được lập tại đây, người dân địa
phương lại càng thêm tự hào. Mỗi lần chứng kiến người dân từ khắp nơi đến tưởng
nhớ các Bà, tôi lại thấy mình vinh dự quá, vì là người dân được sinh sống ở mảnh
đất linh thiêng này.

Cụ Từ Trần Duy Giáp thắp hương trong nhà Tưởng niệm bà Ba Định

Cụ Trần Duy Giáp là người được người dân trong làng Hát Môn
tiến cử làm Thủ từ ở ngôi đền Hát Môn linh thiêng này. Cụ Giáp cho biết, ngày Tết
đang đến rất gần, dân làng đang tất bật chuẩn bị cho các ngày lễ lớn trong năm
của Đền như ngày 23 tháng Chạp là ngày lễ chuẩn bị đăng quang lên ngôi vua của
Hai Bà Trưng, ngày 6/3 âm lịch là ngày chính giỗ của Hai Bà và ngày 4/9 là ngày
Hai Bà thắng trận về khao quân tại nơi này.

Vào những ngày lễ, dân làng Hát Môn và người dân nhiều nơi về
đây dự lễ. Những dịp này, những người trông coi, đèn nhang khu di tích này đều tự
hào giới thiệu về Hai Bà Trưng và sự ra đời nhà tưởng niệm bà Ba Định…

Sống làm Tướng, chết thành Thần

Theo cụ Trần Văn Giáp, ngày 6/3/1990, bà Ba Định về thăm
làng Hát Môn và dự lễ kỷ niệm 1950 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và tưởng niệm
ngày Hai Bà tuẫn tiết tại Hát Môn. Khi ấy, dân làng đã dâng mời bà Ba Định một
mâm bánh trôi đúng bằng số tuổi 70 của bà lúc ấy.

Bánh trôi là sản vật truyền thống được dâng cúng vì tương
truyền đây là loại  bánh mà Hai Bà Trưng đã ăn xong trước khi mất. Hôm ấy,
bà Ba Định cũng thưởng thức rất ngon. Bà vô cùng tự hào và khâm phục tinh thần
quật khởi và lòng yêu nước bất khuất của Hai Bà Trưng. 

Bà bày tỏ ý nguyện khi “về với tiên tổ”, muốn làm
một người lính theo hầu dưới trướng của Hai Bà Trưng, thể hiện sự tiếp nối truyền
thống anh hùng, bất khuất của dân tộc và của người phụ nữ Việt Nam” và
mong được theo hầu Hai Bà Trưng ở nơi đây.

Sau lần ấy, bà Định không kịp về lại nơi này lần nào nữa.
Theo di nguyện của bà Nguyễn Thị Định, người dân Hát Môn đã lập nhà tưởng niệm
Nữ tướng ngay trong khuôn viên đền thờ Hai Bà Trưng” – cụ Giáp bùi ngùi nhớ
lại.

Ông Kim Văn Quý, người có 30 năm công tại chính quyền xã.
Sau khi nghỉ hưu, ông Quý lại được bà con tín nhiệm giao làm Phó Ban bảo vệ di
tích đền Hát Môn trong nhiều năm qua.

Bao dấu ấn thay đổi của địa phương, dường như ông đều được
chứng kiến. Ngày Tết Nguyên đán cận kề, nhưng trong câu chuyện của ông Quý dường
như ông không mấy lo lắng, tất bật ngược xuôi sắm Tết mà chỉ say sưa nói về những
ngày lễ liên quan đến ngày tưởng nhớ Hai Bà Trưng và bà Định. “Tết thì Tết,
cứ phải lo việc cho đền Hát Môn và dâng kính các Bà chu toàn đã” – ông Quý
cho biết.

* “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau
rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần”, nhà sử học Trần
Văn Giàu viết trong lời đề tựa tập sách “Nhớ chị Ba Định”

* “Ngay buổi đầu khởi nghĩa chống ách ngoại xâm từ thế
kỷ thứ I, nước ta đã có Hai Bà Trưng – hai vị vua nữ anh hùng. Đến thế kỷ 20 đất
nước lại có bà Ba Định – Nữ tướng đầu tiên của thời đại Hồ Chí Minh. Làng chúng
tôi vinh dự được là nơi đèn nhang mỗi ngày cho các vị nữ anh hùng nên ai cũng tự
hào”, cụ Trần Duy Giáp, Thủ từ Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội)

* “Mỗi lần đến đền Hát Môn tưởng nhớ các vị nữ anh
hùng, tôi lại thêm một lần nhắc nhở mình phải luôn sống thật tốt, làm người có
ích để xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng và bà Nguyễn Thị Định. Tôi cũng
luôn làm gương người mẹ, người bà thật tốt để con cháu mình noi theo”,
bà Duy Thị Minh, thôn I, xã Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội)

Những chiếc xe ô tô, xe máy mang biển số của Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương cũng lần lượt rẽ vào Đền. Người dân ở làng thì cứ lác
đác đến từ sáng tới chiều. Người dân quanh vùng, lúc nào xong việc nhà, việc đồng
áng là tranh thủ mang lễ tới Đền kính viếng Hai Bà Trưng và bà Ba Định.

Trong khuôn viên đền Hát Môn với vẻ cổ kính, uy nghiêm, thi
thoảng tiếng thỉnh chuông của người đến lễ lại vang lên, trong làn khói hương bảng
lảng là khuôn mặt của những người dân tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ các vị nữ
anh hùng của dân tộc.

Cụ Giáp cho biết, nhiều lần cụ chứng kiến những người phụ nữ
trong quân phục quân đội, những người dân tỉnh xa đến thắp hương cho bà Định
xong lại sụt sùi khóc khi xem lại di nguyện, những bức ảnh lưu niệm cũ của bà Định
ở nhà Tưởng niệm.

Ông Quý bảo: “Tất cả du khách phương xa về đền Hát Môn,
chúng tôi đều giới thiệu thêm về Nhà tưởng niệm bà Ba Định. Được sự giúp đỡ của
chính quyền và người thân của bà Định ở tỉnh Bến Tre, nhà tưởng niệm bà Định của
chúng tôi có lưu khá đầy đủ hình ảnh và tư liệu của bà Ba Định.

Với người dân làng Hát Môn chúng tôi, bên cạnh Hai Bà Trưng
thì bà Nguyễn Thị Định cũng như vị thần của toàn dân làng Hát Môn vậy. Chúng
tôi chẳng ước gì, chỉ nghĩ làm sao con cháu trong làng Hát Môn này đều sống xứng
đáng với anh linh của Hai Bà Trưng và bà Ba Định, nơi mà chúng tôi vẫn thờ tự,
hương khói tưởng nhớ mỗi ngày.

Nữ tướng Nguyễn Thị Định (1920 – 1992) quê ở xã Lương Hòa,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là một trong những người lãnh đạo phong trào
Đồng Khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp cuộc Đồng Khởi đợt I ngày
17/1/1960 thắng lợi, mở đầu cho phong trào Đồng Khởi trong tỉnh và toàn miền Nam sau
này. Sau cuộc Đồng Khởi Bến Tre, bà làm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải
phóng tỉnh Bến Tre. Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân
dân Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng
của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước…

Ngày 30/8/1995, Nữ tướng Nguyễn Thị Định được Chủ tịch nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Rate this post
Continue Reading

Văn Hóa & Du Lịch

Khu bảo tồn thiên nhiên lung Ngọc Hoàng

Published

on

By


Cách TP. Vị Thanh (tỉnh Hậu Giang) 40km về phía đông bắc, Khu bảo tồn thiên nhiên lung Ngọc Hoàng gây ấn tượng với bất cứ ai khi lần đầu đặt chân đến, bởi vẻ đẹp hoang sơ, hữu tình.



Các
nhà báo, du khách thích thú và tranh thủ
sáng tác để có những tác phẩm đẹp, độc đáo.



Lục bình
– một trong những món rau rừng “đặc sản” tại lung Ngọc Hoàng.

Từ các tháp canh, phóng tầm mắt ra xa, hướng về những dải rừng
tràm xanh ngút, những dòng kênh lượn quanh, du khách
tưởng như lạc vào một thế giới màu xanh đầy quyến rũ. Những chiếc
vỏ lãi composite lướt nhanh qua đám lục bình, trong làn
nước nâu đỏ đặc trưng của rừng tràm, đưa du khách len lỏi qua
các cánh rừng bạt ngàn, mang đến cảm giác sảng khoái
khi được đắm mình giữa bốn bề thiên nhiên xanh mát, trong
lành.




Món
đặc sản ở lung Ngọc Hoàng: Cá lóc, cá trê nướng
trui.



Những chiếc
vỏ máy composite đưa du khách khám phá lung Ngọc Hoàng.

Đến lung Ngọc Hoàng, du khách sẽ thêm phần thú vị, khi
cùng nông dân câu cá, kéo vó, đặt
lờ… thưởng thức các món đặc sản hấp dẫn: Cá lóc,
cá trê đồng nướng trui; chả cá thát lát hấp lá
cách; đọt choại nhúng lẩu mắm…



Sen được trồng
dọc theo các con kênh, ao dưới tán rừng tràm khiến cho
du khách càng “say” với sinh cảnh nơi đây.



“Tìm
về chốn bình yên”.



Đời sống kinh
tế những hộ dân đang sống trong khu vực ổn định nhờ trồng chuối, dưa hấu,
đu đủ,…

Với không gian êm ả và thanh bình, nơi đây là
điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách.

Nguồn : Báo ảnh đất mũi 

Rate this post
Continue Reading

Trending

You cannot copy content of this page