Thứ hai, thời cơ từ vị trí địa - chiến lược, địa kinh tế
Việt Nam nằm trên tuyến đường biển huyết mạch của thế giới, nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu và Trung Đông. Việt Nam cũng nằm trên hệ thống kết nối đường bộ của các quốc gia Đông Nam Á và châu Á. Hơn 90% lượng vận tải thương mại thế giới thực hiện bằng đường biển thì có 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Việt Nam cũng ở cạnh Trung Quốc, gần với Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia có tiềm lực kinh tế, thị trường lớn, có tiềm lực tài chính, khoa học - công nghệ mạnh... tạo cơ hội lớn cho Việt Nam mở rộng thị trường, xuất khẩu sản phẩm. Với vị trí địa chiến lược như trên, Việt Nam luôn có ý nghĩa chiến lược và được sự quan tâm của các nước, tạo lợi thế để Việt Nam phát huy thế mạnh, tiềm lực của mình, thu hút được nhiều sự quan tâm, đầu tư của các nước, đặc biệt là các nước lớn. Về vị trí địa - kinh tế, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á - khu vực có nhiều tiềm năng, động lực phát triển kinh tế và là khu vực phát triển nhanh, năng động nhất trên thế giới. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng khốc liệt, Việt Nam đang và sẽ trở thành điểm đến trong thu hút vốn đầu tư trên thế giới.
Thứ ba, thời cơ từ việc tích cực tham gia toàn cầu hóa, hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động, tạo điều kiện để học hỏi, nâng cao trình độ, kinh nghiệm quản lý, thu hút nguồn vốn của thế giới, đặc biệt là tiếp thu tri thức để phát triển nền kinh tế, tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu. Tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam có quan hệ thương mại với 230 thị trường trên thế giới, đàm phán, ký kết nhiều FTA thế hệ mới, trở thành mắt xích quan trọng trong các liên kết khu vực. Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nền kinh tế (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 FTA, bao gồm cả các FTA thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)... Việc hội nhập, sâu rộng vào nền kinh tế khu vực, thế giới tạo ra cơ hội mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tham gia quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế; tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường lớn, thu hút mạnh mẽ FDI và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào thị trường của các nước đối tác...
Thứ tư, thời cơ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự hội tụ của công nghệ mới xuất hiện dựa trên nền tảng kết nối và công nghệ số, kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Cuộc cách mạng này tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chi phí thấp hơn, giúp nền kinh tế hiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn. Việt Nam là quốc gia đi sau trong cuộc Cách mạng công nghiệp trước 4.0 nhưng đi cùng với thế giới trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam cũng có lợi thế là đã quan tâm đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông quốc gia, chuyển đổi số. Việt Nam có tiềm năng về nhân lực công nghệ số. Do đó, Việt Nam có thể đi thẳng vào công nghiệp 4.0, mà mất ít chi phí chuyển đổi. Đặc biệt, nếu tận dụng cuộc cách mạng này, Việt Nam có thể phát triển bứt phá, nhảy vọt, rút ngắn, đi thẳng vào hiện đại, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến khác.