Văn mẫu lớp 9: Dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (10 mẫu + Sơ đồ tư duy)

TOP 10 Dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá chi tiết nhất, kèm theo sơ đồ tư duy, cung cấp cho các em học sinh lớp 9 những thông tin bổ ích để triển khai thành bài văn phân tích Đoàn thuyền đánh cá thật hay.

Đoàn thuyền đánh cá

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận đã để lại trong lòng bạn đọc bao ấn tượng sâu đậm, tái hiện bức tranh thiên nhiên và con người tuyệt đẹp, rộn ràng và tràn đầy sức sống. Mời các em cùng theo dõi bài viết dưới đây của Download.vn để ngày càng học tốt môn Văn 9.

Sơ đồ tư duy Phân tích Đoàn thuyền đánh cá

Sơ đồ tư duy Phân tích Đoàn thuyền đánh cá

Dàn ý bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

a. Mở bài

b. Thân bài

* Bức tranh thiên nhiên buổi hoàng hôn khi đoàn thuyền đánh cá ra khơi

* Bức tranh thiên nhiên với sự trù phú, giàu có của biển cả bao la khi đoàn thuyền đánh cá trên biển

=> Gợi lên sự giàu có, trù phú cùng vẻ đẹp lộng lẫy của biển cả khi đêm về.

* Bức tranh thiên nhiên với vẻ đẹp thơ mộng khi đoàn thuyền đánh cá trở về

- Vẻ đẹp của thiên nhiên lại được miêu tả trong sự hồi sinh "Mặt trời đội biển nhô màu mới".

- Bức tranh muôn triệu mắt cá li ti trong ánh rạng đông.

c. Kết bài

Lập dàn ý Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

(1) Mở bài

Giới thiệu về tác giả Huy Cận, bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.

(2) Thân bài

a. Khung cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

* Khổ thơ thứ nhất:

- Hai câu đầu: Hình ảnh thiên nhiên trên biển lúc hoàng hôn.

=> Thiên nhiên bắt đầu thời gian nghỉ ngơi, hưởng thụ trạng thái bình yên.

- Hai câu sau: Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá lúc ra khơi.

=> Khi vạn vật bắt đầu nghỉ ngơi, những người ngư dân mới bắt đầu hành trình lao động của mình.

* Khổ thơ thứ hai: Nội dung câu hát của những người dân miền biển.

b. Khung cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển

* Khổ thơ thứ ba: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.

* Khổ 4: Cảnh biển vào ban đêm

* Khổ 5: Tinh thần lao động của người dân chài

* Khổ 6: Cảnh thu hoạch cá

c. Khung cảnh đoàn thuyền đánh cá lúc trở về

(3) Kết bài

Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đoàn thuyền đánh cá.

Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả Huy Cận và bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”: Tác giả Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám. Sau cách mạng, hòa bình lập lại, những trang thơ của ông tràn ngập hơi thở sức sống mới, trong đó có bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”.

2. Thân bài

3. Kết bài

Khẳng định giá trị của bài thơ: Có thể thấy, bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là một bài ca lao động đầy hứng khởi và hào hùng, không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, biển cả mà còn ca ngợi những con người lao động trong thời kì mới, họ gan góc, cần cù và ngày đêm làm giàu cho đất nước.

Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá ngắn gọn

I. Mở bài:

II. Thân bài: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

1. Cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của người đi biển:

2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển:

3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá quay trở về:

III. Kết bài: nêu cảm nghĩ của em về Đoàn thuyền đánh cá

>> Tham khảo: Phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

1. Mở bài:

Giới thiệu tác giả - hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Bài thơ như lời hát đầy nhiệt tình của những con người yêu nghề, yêu biển hăng hái tích cực góp phần mình xây dựng xã hội mới ở thời kỳ đầu của đất nước, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

2. Thân bài:

1. Cảnh đoàn thuyền ra khơi và khí thế người lao động (khổ thơ 1 + 2):

“Mặt trời xuống biển như hòn lửaSóng đã cài then, đêm sập cửa.Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,Cá thu biển Đông như đoàn thoiĐêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”.

2. Cảnh lao động đánh cá trên biển (khổ thơ 3, 4, 5, 6):

“Thuyền ta lái gió với buồm trăngLướt giữa mây cao với biển bằng,Ra đậu dặm xa dò bụng biển,Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Ta hát bài ca gọi cá vào,Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,Biển cho ta cá như lòng mẹ,Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”

3. Cảnh đoàn thuyền trở về (khổ thơ cuối):

“Câu hát căng buồm với gió khơi,Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.Mặt trời đội biển nhô màu mớiMắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.”

3. Kết bài:

Khẳng định lại ý nghĩa, chủ đề bài thơ: Bài thơ là cuộc chạy đua giữa con người và thiên nhiên và con người đã chiến thắng. Đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui.

Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

2, Thân bài

a. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi

- Thời gian lao động đặc biệt, không gian thiên nhiên hùng vĩ:

⇒ Không gian hùng vĩ, có chút bí ẩn của đêm tối. Trong không gian đó, con người hiện lên với vẻ đẹp yêu đời, khỏe khoắn, hăng say:

b. Sự giàu có, hào phóng, mỹ lệ của biển khơi

Ông cha ta đã đúc kết ra câu thành ngữ “Rừng vàng biển bạc”, khổ thơ thứ 2 và thứ 4 của bài đã chứng minh điều này:

- Sự giàu có của biển Đông: cá bạc lấp loáng trên biển, cá thu nhiều “như đoàn thoi”, “dệt biển muôn luồng sáng”.

- Các loài cá ngon, quý hiếm được liệt kê với giọng tự hào: Cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song.

⇒ niềm vui thích trước sự giàu có của biển cả khiến tác giả như reo lên: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”

- Vẻ đẹp của biển đêm: trăng và sao trời in trên mặt biển (bóng trăng “vàng chóe”), biển trời như tấm gương phản chiếu nhau, không gian được mở rộng, tăng thêm sức sống (“Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”).

- Nghệ thuật: thủ pháp liệt kê, so sánh (như đoàn thoi, đuốc đen hồng), nhân hóa (cái đuôi em quẫy, đêm thở) tạo nên một bức tranh thiên nhiên sống động.

c. Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển (khổ thơ 3, 5, 6)

Tác giả cho bạn đọc thấy con tàu đánh cá như tàu chiến, những ngư dân như những người anh hùng trên biển khơi:

- Hình ảnh mạnh mẽ, hùng tráng: con thuyền đi nhanh như “lái gió”, cánh buồm trắng ôm trọn mặt trăng, thuyền đi “giữa mây cao với biển bằng”

- Động từ “lướt”: cảm giác đi như bay, mạnh mẽ

⇒ hình ảnh đẹp, con thuyền đi trên biển như thuyền có phép lạ bay trên mây.

- Việc đánh cá tài tình và đầy chiến thuật như đánh giặc: thuyền ra “dặm xa dò bụng biển”, “Dàn đan thế trận lưới vây giăng”. Những công việc được thực hiện một cách hào hứng, vui vẻ: ngư dân gõ mạn thuyền cho cá bơi vào lưới, giống như “hát bài ca gọi cá vào”.

- Khi bắt đầu ra khơi là ban đêm, lúc “sao mờ”, sắp sáng là thuyền trở về:

⇒ Ba khổ thơ cho thấy con người luôn có khát vọng chiến thắng, làm chủ thiên nhiên nhưng cũng vô cùng biết ơn thiên nhiên: Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

- Nghệ thuật: ba khổ thơ trên có giọng thơ nhanh, dồn dập thể hiện sự hăng say lao động. Sử dụng nhiều động từ mạnh (lái, lướt, gõ, kéo) cho thấy hình ảnh khỏe khoắn của người lao động; tính từ chỉ màu sắc: vàng, bạc, hồng gợi sự tươi vui, ấm no.

d, Cảnh đoàn thuyền trở về

Tác giả sử dụng những hình ảnh giống cảnh đoàn thuyền ra khơi ở khổ 1: câu hát, mặt trời nhưng với những sắc thái mới:

3. Kết bài:

Tổng kết giá trị bài thơ:

Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá hay nhất

1. Mở bài

2. Thân bài

3. Kết bài

Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá đầy đủ

I. Mở bài:

II. Thân bài:

* Khái quát chung về tác phẩm

- Nêu về hoàn cảnh sáng tác bài thơ

- Giải thích ý kiến:

* Phân tích bài thơ

- Ý nghĩa nhan đề bài thơ thể hiện cảm hứng chủ đạo của tác phẩm về những người lao động trong thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa

- Khúc tráng ca về con người lao động thể hiện theo chiều dài hành trình của chuyến ra khơi

- Cảnh con người lạc quan, vui vẻ, hăng say khi ra khơi

→ Khí thế phơi phới, mạnh mẽ của người lao động trên biển làm chủ cuộc đời đang chinh phục biển khơi

- Sự giàu có và trù phú của biển cả

→ Cảnh ra khơi huy hoàng đầy khí thế hứa hẹn

- Niềm cảm hứng say sưa, bài ca lao động vui tươi, khỏe khoắn ngợi ca cảnh đánh cá trên biển

Thuyền ta lái gió với buồm trăngLướt giữa mây cao với biển bằng

- Cảm nhận về vẻ đẹp và sự đa dạng của các loài cá quý

→ Như vậy tầm vóc của người và đoàn thuyền được nâng lên, hòa nhập vào kích thước của thiên nhiên, vũ trụ. Không còn cảm giác cô đơn, nhỏ bé của con người khi đối diện với trời rộng, sông dài trong thơ Huy Cận

- Khúc hát vui tươi trong lao động được cất lên

→ Những hình ảnh lãng mạn, giàu chất thơ làm cho công việc vốn nặng nhọc, vất vả như nghề ra khơi trở nên rộn rã, thi vị hơn

- Khúc khải hoàn ca trong sau một ngày ra khơi vất vả

III. Kết bài:

Dàn ý phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

1. Mở bài

2. Thân bài

a. Khúc hát ra khơi (khổ 1+2)

* Khổ 1:

- Hai câu đầu: Đoàn thuyền ra khơi trong cảnh hoàng hôn (2 câu thơ đầu)

⇒ Vũ trụ đang bước vào trạng thái nghỉ ngơi gợi sự bình yên, con người ra khơi vào thời điểm về đêm

- Hai câu sau: Dân chài cất cao tiếng hát tạo sự khỏe khoắn (2 câu thơ cuối)

⇒ Vũ trụ bước vào trạng thái nghỉ ngơi thì con người bắt đầu ra khơi đánh cá với khí thế phơi phới và niềm vui đang chinh phục biển khơi

* Khổ 2: Câu hát thể hiện mong ước đánh nhiều cá và sự tự hào về sự giàu có của biển

b. Khúc hát đánh cá trên biển(khổ 3+4+5+6)

* Khổ 3: Người dân ra khơi với tư thế tầm vóc lớn lao

⇒ Các biện pháp nghệ thuật trên làm nổi bật tầm vóc của con người và đoàn thuyền

⇒ sự kết hợp giữa hiện thực (đoàn thuyền) với chất lãng mạn (thuyền lái gió, trăng treo trên cánh buồm) tạo nên những vần thơ đẹp và sâu sắc

* Khổ 4: Cảnh biển đẹp trong đêm

⇒ Thiên nhiên trên biển đêm thực sự rực rỡ sắc màu như một bức tranh sơn mài

* Khổ 5: Tinh thần lao động hăng say và lòng biết ơn biển

“Ta hát bài ca gọi cá vào”: Người dân chài đã biến công việc nặng nhọc thành bài ca vui tươi ⇒ Tiếng hát của người dân chài có khả năng kì diệu là gọi cá vào lưới

⇒ bút pháp lãng mạn khi miêu tả giúp cho công việc đánh cá đêm trở nên thơ mộng

⇒ Nói lên lòng tự hào và biết ơn biển

* Khổ 6: Cảnh thu hoạch cá

⇒ Bút pháp lãng mạn được sử dụng làm nổi bật vẻ thơ mộng khi đã kết thúc công việc đánh cá đêm.

c. Khúc ca khải hoàn (Khổ 7)

⇒ Câu hát lúc trở về say sưa hơn bao giờ hết, vì một đêm lao động vất vả đã được đền đáp một cách xứng đáng

⇒ Vẻ đẹp của con người, thiên nhiên hòa hợp nhuần nhuyễn thành vẻ đẹp thực sự tráng lệ

3. Kết bài

Dàn ý phân tích Đoàn thuyền đánh cá chi tiết

I. Mở bài:

HUY CẬN (1919 - 2005) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam. Trước cách mạng, thơ Huy Cận nhuốm đẫm nỗi buồn của Thơ mới. Sau cách mạng, Huy Cận nhanh chóng hòa nhập với không khí cuộc sống mới, hồn thơ tươi vui, sôi nổi. Bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” ra đời trong chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh năm 1958, được in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng”. Bài thơ khắc hoạ nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ, thể hiện sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.

II. Thân bài:

1. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi (khổ 1):

Cảnh “Mặt trời xuống biển như hòn lửa” đẹp một cách hùng vĩ: Mặt trời như hòn lửa “lặn” xuống biển mà vẫn rực cháy. Sóng biển là then cài, màn đêm là cánh cửa. Cửa đã sập, then đã cài (sóng đã cài then, đêm sập cửa), một ngày đã chấm dứt, bắt đầu một đêm.Khai thác nghệ thuật so sánh, ẩn dụ để làm nổi bật điều đó.

Đêm bắt đầu là bắt đầu cảnh lao động của người ngư dân: “Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”. Tiếng hát của những người đánh cá như cùng với gió khơi làm căng thêm buồm, đưa đoàn thuyền đánh cá chạy nhanh ra khơi xa. “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”, một sự mở đầu của một đêm lao động vui, hào hứng và khẩn trương.

2. Cảnh lao động đánh cá trên biển cả bao la, hùng vĩ và giàu có (khổ thơ 2, 3, 4, 5, 6):

* Biển Đông giàu có:

- Cá thu, một loại cá quý ở biển, nhiều như đoàn thoi (Cá thu biển Đông như đoàn thoi). Từ sự ví von (cá thu như đoàn thoi), tạo nên một sự liên tưởng ý vị:

- Biển Đông hùng vĩ, công việc lao động đánh cá thật hùng tráng:

+ Biển hùng vĩ với gió, trăng, mây, với chiều cao, chiều rộng, chiều sâu:

“Thuyền ta lái gió với buồm trăngLướt giữa mây cao với biển bằngRa đậu dặm xa dò bụng biển”.

+ Công việc lao động đánh cá trên biển thật hùng tráng: Thuyền đánh cá có gió làm lái, trăng làm buồm và lướt giữa cái mênh mông bao la của trời, biển giữa mây cao và biển bằng. Công việc đánh cá là thăm dò tài nguyên của biển (dò bụng biển), là: “Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.

+ Con người làm chủ thiên nhiên làm chủ công việc lao động…

* Biển đẹp và ân tình:

- Biển đẹp:

- Biển ân tình, bao dung như lòng mẹ: “Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tựa buổi nào”.

- Công việc lao động đánh cá trên biển thật đầy thi vị lãng mạn và hết sức hào hùng:

3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá từ khơi xa trở về (khổ thơ cuối).

a) Đoàn thuyền đánh cá trở về:

b) Bình minh trên biển cả:

4. Nghệ thuật biểu hiện:

Với cách xây dựng hình ảnh thơ bằng liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú, âm hưởng thơ khỏe khoắn, hào hùng và sáng tạo, Đoàn thuyền đánh cá đã tái hiện thành công vẻ đẹp trù phú của biển cả quê hương và cuộc sống lao động đầy hăng say của nhân dân trong thời kỳ mới. Bài thơ còn là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp.

III. Kết bài:

Đoàn thuyền đánh cá là một khúc hát ca ngợi lao động đánh cá trên biển của người ngư dân làm chủ cuộc đời và biển cả, ca ngợi biển cả bao la, hùng vĩ, giàu và đẹp.

Miêu tả một cảnh lao động trên biển cả trong đêm, bài thơ đầy ánh sáng, tiếng hát và con người thì lồng lộng giữa trời cao, biển rộng. Bài thơ là một bức tranh đẹp và là một bài ca hào hùng về thiên nhiên và con người, về biển cả và sự lao động của con người làm chủ thiên nhiên, về những năm tháng thi đua lao động và sản xuất xây dựng xã hội ở miền Bắc.

Link nội dung: https://cdspvinhlong.edu.vn/luan-diem-doan-thuyen-danh-ca-a35203.html