Đề bài: Viết đoạn văn phân tích phần mở đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Dàn ý Đoạn văn phân tích phần mở đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
1. Mở đoạn:
- Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị.
- Dẫn dắt tám câu thơ cần phân tích.
2. Thân đoạn:
a. Bốn câu đầu: Khơi gợi kỷ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình.
- Khung cảnh chia tay bịn rịn giữa kẻ ở và người về.
- Cách xưng hô “mình - ta”: thân mật gần gũi như trong ca dao.
- Điệp ngữ và kết cấu tu từ được lặp lại hai lần như khơi dậy bao kỉ niệm. Hai câu hỏi đều hướng về nỗi nhớ, một nỗi nhớ về thời gian “mười lăm năm”, một nỗi nhớ về không gian: “sông, núi, nguồn”.
=> Đó là khoảng thời gian gắn bó biết bao kỉ niệm của người dân Việt Bắc với người lính
b. Bốn câu sau: Tiếng lòng của người về xuôi mang bao nỗi nhớ thương, bịn rịn.
- Từ láy “bâng khuâng” thể hiện sự xao xuyến, “bồn chồn” thể hiện sự không yên tâm trong dạ, không nỡ rời bước.
- Hình ảnh “áo chàm” chỉ người dân Việt Bắc thân thương giản dị.
- Cử chỉ cầm tay nhau thay lời nói chứa đầy cảm xúc.
- Lời người ở lại nhắn gửi tới người ra đi: Lời nhắn gửi được thể hiện dưới hình thức những câu hỏi: nhớ về Việt bắc cội nguồn quê hương cách mạng, nhớ thiên nhiên Việt Bắc, nhớ những địa danh lịch sử, nhớ những kỉ niệm ân tình…
- Nghệ thuật:
+ Liệt kê hàng loạt các kỉ niệm.
+ Ẩn dụ, nhân hóa: rừng núi nhớ ai.
+ Điệp từ “mình”.
+ Cách ngắt nhịp 4/4 đều tha thiết nhắn nhủ người về thật truyền cảm.
=> Thiên nhiên, mảnh đất và con người Việt Bắc với biết bao tình nghĩa, ân tình, thủy chung.
3. Kết đoạn:
- Đánh giá chung về tám câu thơ đầu.

Đoạn văn phân tích phần mở đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu (Mẫu 1)
Tố Hữu là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại. thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị. Mỗi trang thơ của Tố Hữu đều gắn bó chặt chẽ với những sự kiện trọng đại của dân tộc, song nhờ trái tim tinh tế và nhạy cảm, ông đã biến những sự kiện ấy thành nguồn cảm hứng nghệ thuật thấm đượm tình người. “Việt Bắc” là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông, thể hiện trọn vẹn phong cách thơ trữ tình - chính trị đồng thời thấm đẫm bản sắc văn hóa dân tộc. Bối cảnh bài thơ ra đời sau chiến thắng Điện Biên Phủ, khi cán bộ kháng chiến rời căn cứ địa Việt Bắc để trở về Thủ đô. Tám câu đầu mở ra khung cảnh chia ly xúc động giữa người cán bộ và đồng bào miền núi. Giọng thơ tha thiết, ngọt ngào như lời đối đáp giữa “mình” và “ta”, gợi nhớ mười lăm năm kháng chiến gian khổ nhưng đầy nghĩa tình. Những câu hỏi tu từ “mình về mình có nhớ ta”, “mình về mình có nhớ không” vang lên da diết, chất chứa nỗi nhớ khôn nguôi. Hình ảnh “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” nhắc nhở đạo lý thủy chung, biết ơn cội nguồn - một nét đẹp trong tâm hồn Việt Nam. Nếu bốn câu đầu diễn tả nỗi lòng người ở lại thì bốn câu sau khắc họa khung cảnh chia tay đầy cảm động. Tiếng gọi tha thiết, bước chân bồn chồn, màu áo chàm mộc mạc và cái nắm tay lặng lẽ đều chan chứa tình cảm gắn bó sâu nặng. Cuộc chia ly không bi lụy mà thấm đẫm tình người, là sự lưu luyến của những con người từng cùng nhau vượt qua năm tháng gian khổ. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” kết lại bằng cảm xúc lặng sâu, biểu tượng cho nghĩa tình tri âm giữa người đi và kẻ ở. Với thể thơ lục bát truyền thống, đại từ “mình - ta” quen thuộc trong ca dao và giọng thơ ngọt ngào, đằm thắm, tám câu thơ đầu của “Việt Bắc” thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp nghĩa tình, lòng thủy chung giữa cán bộ cách mạng và đồng bào. Bằng sự kết hợp tài hoa giữa cảm hứng trữ tình và tinh thần chính trị, Tố Hữu đã tạo nên một đoạn thơ giàu xúc cảm, mang giá trị nhân văn sâu sắc. “Việt Bắc” nói riêng và thơ Tố Hữu nói chung đã khẳng định vị thế của ông như ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, người kế tục xứng đáng truyền thống thơ ca dân tộc trong thời đại mới.
Đoạn văn phân tích phần mở đầu bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu (Mẫu 2)
Nhà thơ Tố Hữu là một tiêu biểu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ của ông giản dị, mộc mạc nhưng lại đầy chất trữ tình. Bài thơ “Việt Bắc” của ông là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ là cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc với các cán bộ cách mạng. Bài thơ có hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Mở đầu bài thơ là tám câu thơ đầy xúc động của người ở kẻ đi. Cách xưng hô “mình - ta” đầy những yêu thương, gần gũi. Mình là người chiến sĩ cách mạng - những người ra đi, ta là những người dân Việt Bắc. Ta đã hỏi rằng mình về liệu có còn nhớ ta không. Chỉ với một câu hỏi tu từ mà người đọc cảm nhận được ở trong đó là những tình cảm đầy lưu luyến, là sự tiếc nuối không nỡ rời xa bởi họ đã bên nhau, gắn bó với nhau “mười lăm năm”. Khoảng thời gian ấy không hề ngắn, khoảng thời gian mười lăm năm đã vun đắp, bồi dưỡng nên một thứ tình cảm “thiết tha mặn nồng” giữa những con người ấy. Nếu như hai câu thơ đầu là tình cảm giữa người với người thì hai câu thơ sau là tình cảm của con người với thiên nhiên nơi đây: “Mình về mình có nhớ không/ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Lại một câu hỏi tu từ nữa được sử dụng khiến người đọc không khỏi bùi ngùi, xúc động. Câu hỏi đã gợi về một không gian có núi, có nguồn nơi Việt Bắc. Không gian ấy đã vô cùng quen thuộc với cả người đi, kẻ ở. Không gian ấy chất chứa biết bao kỉ niệm, ba cảm xúc mà họ đã cùng trải qua trong những tháng ngày gian khổ chiến đấu. Với điệp từ “nhìn”, “nhớ” đan xen trong câu thơ như muốn gợi nhắc người ra đi đừng quên quá khứ, về miền xuôi đừng quên đi miền ngược, đừng lãng quên những kỉ niệm đã lưu giữ lại nơi đây. Đó chính là những nhắn nhủ, những mong muốn của người ở lại. Nỗi nhớ của người ở lại đã được biểu đạt một cách trực tiếp, và càng về sau thì sự nhớ nhung lại càng tăng thêm tạo âm hưởng chủ đạo của bài thơ - âm hưởng nhớ thương, tha thiết. Thế nhưng không chỉ có những tình cảm mong nhớ của người ở lại, mà những người ra đi cũng chất chứa trong lòng những sự nhớ nhung với vùng đất, con người nơi đây. Và rồi, người ra đi cũng đã hồi đáp lại. Bốn câu thơ tiếp theo đã vẽ nên một khung cảnh chia tay đầy lưu luyến, dù chưa chia xa thế nhưng sự nhớ nhung đã thể hiện một cách rõ ràng. Đại từ “ai” cùng với từ “tha thiết” đã làm nổi bật cảm xúc, tình cảm đặc biệt của người ra đi”. Điều này như một câu trả lời gián tiếp rằng người ra đi sẽ mãi chẳng bao giờ quên đi những kỉ niệm đã có ở nơi đây. Nỗi nhớ khắc cốt ghi tâm ấy càng được bộc lộ một cách rõ ràng qua các từ miêu tả cảm xúc như “bâng khuâng”, “bồn chồn”. Họ ra đi thế nhưng trong lòng lại cảm thấy lưu luyến không nỡ rời xa nơi có những con người tình nghĩa luôn chờ họ. Chính bởi sự không nỡ rời xa ấy mà phút cuối cùng trước khi chia xa họ lại nghẹn ngào không nói lên lời: “Áo chàm đưa buổi phân ly/ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Áo chàm là màu áo đặc trưng của những con người nơi đây, là một hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống thường nhật. Nhà thơ đã sử dụng hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để chỉ những người dân Việt Bắc. Hình ảnh “áo chàm đưa buổi phân ly” ấy chính là bức tranh về cuộc chia tay đầy cảm xúc giữa người Việt Bắc với những người cách mạng. Và nổi bật lên cả trong khung hình ấy chính là hình ảnh “cầm tay nhau”. Đây là một hành động quen thuộc và đẹp đẽ khi chia ly, nó thể hiện một tình cảm đầy gắn bó và thân thiết, cũng như thể hiện sự lưu luyến giữa người đi kẻ ở. Họ cầm tay nhau trong trang thái nghẹn ngào, “biết nói gì hôm nay”. Họ không phải không có điều gì để nói với nhau mà do có quá nhiều thứ cần nói, quá nhiều những tình cảm chất chứa khiến họ nghẹn ngào không thể thốt lên lời. Chỉ với tám câu thơ chúng ta đã thấy được sự tài hoa của Tố Hữu trong việc vận dụng các biện pháp nghệ thuật vào tác phẩm của mình. Đồng thời, những nội dung mà nhà thơ truyền tải cũng thật gần gũi, sâu sắc. Một buổi chia tay của người dân với chiến sĩ cách mạng lại được vẽ ra đầy cảm xúc, góp phần làm nổi bật sự thuỷ chung, ân tình của những con người nơi đây.