.png)
I- NHÀ NƯỚC CHỦ NÔ
Ở phương Tây, quá trình biến đổi của xã hội dẫn đến sự ra đời của nhà nước chủ nô diễn ra tương đối nhanh chóng, sở hữu tư nhân phát triển mạnh mẽ, mâu thuẫn giai cấp rất gay gắt. Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ, đất đai và các tư liệu sản xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân của các chủ nô, kể cả nô lệ. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, bên cạnh đó là lực lượng dân tự do (giới bình dân). Nô lệ có địa vị vô cùng thấp kém, họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, chủ nô có quyền tuyệt đối đối với nô lệ, khai thác bóc lột sức lao động, đánh đập, đem bán, tặng cho, bỏ đói hay giết chết. Cơ sở kinh tế xã hội của nhà nước chủ nô là nhân tố quyết định bản chất, chức năng, bộ máy, hình thức nhà nước cũng như quá trình tồn tại, phát triển của nhà nước chủ nô.
Hiện nay, quan điếm về sự phân chia kiểu đối với các nhà nước phương Đông chưa có sự thống nhất. Ngay cả thời điểm khởi đầu và thời điểm kết thúc của kiểu nhà nước đầu tiên ở khu vực này hiện cũng còn tranh luận. Các nhà nước phương Đông xuất hiện tương đối sớm so với các nhà nước phương Tây, trong điều kiện lực lượng sản xuất còn tương đối thấp kém, quá trình biến đổi của xã hội dẫn tới việc hình thành nhà nước khá chậm chạp và kéo dài. Nhà nước xuất hiện nhưng công xã nông thôn (công xã láng giềng), tàn tích của chế độ thị tộc vẫn còn tồn tại. Trong một thời gian dài, nhà nước tồn tại và phát triển trên cơ sở đan xen giữa chế độ công hữu còn điều kiện để phát triển khá vững chắc với chế độ tư hữu mới hình thành, chưa phát triển lắm. Quan hệ sản xuất chủ yếu trong xã hội là quan hệ giữa nhà nước với thành viên công xã nông thôn. Nhà nước là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất nhung kẻ trực tiếp chiếm hữu ruộng đất là các công xã nông thôn, công xã thay mặt cho nhà nước quản lý ruộng đất và chia cho thành viên trong công xã canh tác để nộp thuế cho nhà nước.
Ở những nước này, số lượng nô lệ không nhiều, vai trò của nô lệ trong nền kinh tế nhìn chung khá hạn chế, nô lệ chủ yếu để hầu hạ phục dịch trong các gia đình quý tộc, quan lại hoặc thực hiện những công việc chung của công xã và nhà nước. Địa vị của nô lệ không đến nỗi thấp kém như ở các nước phương Tây, nô lệ có thể có gia đình riêng, có khi còn được coi như thành viên trong gia đình. Bộ phận đông đảo nhất trong xã hội là thành viên công xã nông thôn, họ là những người tự do, được công xã định kì chia đều ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước để tự canh tác và nộp thuế cho nhà nước. Như vậy, mặc dù có thể xếp vào cùng một kiểu, nhưng các nhà nước ở phương Đông và phương Tây có khá nhiều điểm khác biệt. Có thể nói, chế độ chiếm hữu nô lệ ở phương Đông nhìn chung chưa phát triển và mang nhiều đặc trưng của chế độ nô lệ gia trưởng.
Mặc dù có rất nhiều hạn chế, tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan, không thể phủ nhận được ý nghĩa lịch sử của nhà nước chủ nô. Dù sao, sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước chủ nô cũng là bước tiến của lịch sử nhân loại, nó tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá... của các xã hội sau này. Đúng như Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: “Không có chế độ nô lệ thì không có quôc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đe chế La Mã. Mà không có cải cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đe chế La Mã thì không cỏ châu Ẵu hiện đại. Chúng ta không bao giờ được quên rằng tiền đề của toàn bộ sự phát triển kinh tế, chỉnh trị và trí tuệ của chúng ta là một trạng thái trong đó chế độ nô lệ cũng hoàn toàn cần thiết giong như nó được tất cả mọi người thừa nhận".
Trong suốt hàng nghìn năm tồn tại, các nhà nước chủ nô luôn tiến hành các cuộc chiến tranh liên miên, chinh phạt, thôn tính lẫn nhau dẫn đến nhiều nhà nước bị xoá bỏ, thay vào đó là sự lớn mạnh của một số nhà nước khác. Tuy nhiên, nhà nước chủ nô tồn tại và phát triển trong điều kiện đối kháng gay gắt giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ cho nên nhất định nó phải bị diệt vong, nhường chỗ cho một kiểu nhà nước mới từng bước hình thành, nhà nước phong kiến.
Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành chính của Công ty Luật TNHH Everest
.png)
II- NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
Nhà nước phong kiến là bước phát triển cao hơn so với nhà nước chủ nô. Do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau nên sự xuất hiện của nhà nước phong kiến trên thế giới không giống nhau. Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là sở hữu của địa chủ, phong kiến về ruộng đất và bóc lột nông dân thông qua phát canh, thu tô. Xã hội phong kiến có kết cấu phức tạp, trong đó có hai giai cấp cơ bản là địa chủ, phong kiến và nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp khác như thợ thủ công, thị dân... Giai cấp địa chủ, phong kiến được phân chia thành nhiều đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản... Nông dân là bộ phận đông đảo nhất trong xã hội phong kiến nhưng đồng thời cũng là đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề, do vậy, đấu tranh giai cấp trong xã hội thường xuyên xảy ra. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp địa chủ, phong kiến đã sử dụng mọi biện pháp có thể, đẩy người nông dân vào những “đêm trường trung cổ”.
Ở phưong Đông, sự ra đời của nhà nước phong kiến có nhiều khác biệt và không có mốc thời gian chung cho sự mở đầu của các nhà nước phong kiến ở khu vực này. Ở những nước này, nhìn chung, quá trình phong kiến hoá xã hội diễn ra chậm chạp, ranh giới giữa chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến không rõ ràng vì không có sự khác biệt về bản chất của phương thức sản xuất giữa hai thời kỳ. Chính vì vậy, quan niệm về sự ra đời các nhà nước phong kiến phương Đông chỉ mang tính ước lệ: dựa vào những sự kiện đánh dấu sự chuyển biến quan trọng của mỗi quốc gia. Xu hướng chung ở các nước phương Đông là trong thời kì đầu chủ yếu bao gồm quan hệ sản xuất giữa nhà nước với nông dân, về sau quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu tư nhân của địa chủ, phong kiến về đất đai mới hình thành và phát triển mạnh mẽ. Trong xã hội phương Đông, một bộ phận nông dân có ruộng đất thuộc sở hữu riêng, tự canh tác trên phần ruộng đất đó và nộp thuế cho nhà nước, bên cạnh đó là những nông dân không có ruộng đất phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, phong kiến và nộp địa tô. Nhìn chung, nông dân chỉ phụ thuộc vào địa chủ về mặt kinh tế, tuy nhiên họ bị địa chủ, phong kiến bóc lột nặng nề, mâu thuẫn xã hội vì thế cũng hết sức sâu sắc.
Cũng như nhà nước chủ nô, các nhà nước phong kiến thường xuyên phát động các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính lẫn nhau, dẫn đến sự suy vong của một số nhà nước và sự lớn mạnh của một số nhà nước khác. Ở nhiều nước, quá trình tồn tại và phát triển của nhà nước phong kiến luôn gắn liền chế độ trung ương tập quyền, ở nhiều nuớc khác, nhà nước phong kiến đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, ban đầu là chế độ phân quyền cát cứ, về sau chế độ trung ương tập quyền mới được thiết lập. Ớ những nước này, chính sách phân phong ruộng đất là nguồn gốc của sự phân chia đẳng cấp cũng như tạo ra các lãnh chúa lớn, nhỏ trong xã hội, dần dần thế lực của các lãnh chúa ngày càng lớn mạnh, trở thành những ông “vua con” ở địa phương, không chịu phục tùng chính quyền trung ương, dẫn đến sự chia cắt đất nước kéo dài trong nhiều thế kỷ. về sau, dưới tác động của nhiều nguyên nhân, tình hạng phân quyền cát cứ từng bước được xoá bỏ, đất nước thống nhất, nền chính trị trung ương tập quyền được thiết lập, tuy nhiên, đó cũng là giai đoạn suy vong của nhà nước phong kiến.
Qua hàng nghìn năm tồn tại, quan hệ sản xuất phong kiến dần dần tỏ ra lỗi thời, mâu thuẫn xã hội gia tăng, trong xã hội dần dần hình thành kiểu quan hệ sản xuất mới, kết cấu giai cấp mới. Chính vì vậy, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến bị thay thế bởi hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, kiểu nhà nước phong kiến bị thay thế bởi kiểu nhà nước tư sản.
Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp quốc tế của Công ty Luật TNHH Everest
III- NHÀ NƯỚC TƯ SẢN
Vào khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, trong lòng xã hội phong kiến phương Tây đang diễn ra quá trình tư bản hoá. Trong xã hội, một kiểu quan hệ sản xuất mới đang từng bước hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đó là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cùng với việc hình thành quan hệ sản xuất mới thì trong xã hội cũng hình thành những giai cấp mới, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Sản xuất ngày càng phát triển, địa vị kinh tế của giai cấp tư sản ngày càng được nâng cao, nhưng quyền lực chính trị vẫn do giai cấp địa chủ, phong kiến nắm giữ.
Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng sâu sắc. Để bảo vệ địa vị kinh tế của mình, giai cấp tư sản tìm cách chiếm vũ đài chính trị, giành chính quyền về tay giai cấp mình. Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các nước khác nhau, nên sự ra đời của nhà nước tư sản ở mỗi nước là không giống nhau. Trên thế giới có ba con đường dẫn đến sự ra đời của nhà nước tư sản:
Một là, sự ra đời của các nhà nước tư sản thông qua các cuộc cách mạng xã hội dưới hình thức khởi nghĩa vũ trang như Hà Lan, Anh, Pháp.
Hai là, sự ra đời các nhà nước tư sản thông qua các cuộc cải cách xã hội như ở Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản... ở những nước này, giai cấp tư sản chưa đủ mạnh để lật đổ giai cấp phong kiến vì vậy có sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến, xã hội được cải cách từng bước theo hướng tư bản hoá, chính quyền nhà nước dần dần chuyển vào tay giai cấp tư sản.
Ba là, sự ra đời các nhà nước tư sản ở châu Mỹ, châu úc như Mỹ, Ca Na Đa, Úc... Ở những khu vực này, giai cấp tư sản được hình thành từ những người châu Âu di cư, họ dùng vũ lực lấn át và tiêu diệt thổ dân bản xứ còn đang trong chế độ thị tộc, bộ lạc, thiết lập nên chính quyền nhà nước tư sản.