Văn Hóa & Du Lịch

Đền vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành tại cố đô Hoa Lư, Ninh Bình





Tham khảo thêm  Người đàn ông Nhật 'phải lòng' phở từ lần đầu thưởng thức




Đền vua Đinh Tiên Hoàng ở cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) trải qua hàng trăm năm vẫn giữ nguyên được kiến trúc độc đáo thế kỷ 17. Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam thờ vua Đinh, cha mẹ, các con trai ông và bài vị các tướng triều Đinh.

Đền vua Đinh Tiên Hoàng

Đền Đinh Tiên Hoàng là một di tích lịch sử văn hóa
cấp Quốc gia thuộc quần thể di tích cố đô Hoa Lư, toạ lạc ở xã Trường
Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đền nằm trên khuôn viên rộng 5ha, thuộc vùng bảo vệ đặc biệt của khu di tích.

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng toạ lạc tại thôn Trường Yên Thượng
(nên còn gọi là đền Thượng). Đền quay hướng Đông, trên khuôn viên rộng khoảng 5
mẫu, lấy núi Mã Yên làm án. Đền là nơi thờ vua Đinh Tiên Hoàng cùng các
con trai của ông.

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng ở nơi chính điện Kinh đô Hoa Lư
ngày xưa được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, nghĩa là bên trong kiến
trúc kiểu chữ công (hán tự), phía ngoài cấu trúc kiểu chữ quốc. Đường đi trong
đền theo hình chữ vương. Các công trình kiến trúc đối xứng nhau theo đường
chính đạo.

Đền thờ vua Vua Đinh Tiên Hoàng là công trình kiến
trúc đặc sắc, di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Cố đô Hoa Lư
được xếp hạng là Di tích cấp quốc gia đặc biệt năm 2012.

Tham khảo thêm  Ngôi làng bí ẩn được mệnh danh là "thành phố của người chết"

Lịch sử hình thành đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng

Tương truyền lại, vua cùng với con trai là Đinh Liễn bị Đỗ
Thích sát hại vào năm 979, theo nghi lễ triều đình đã tấn phong thuỵ hiệu, mỹ tự,
lập đền thờ cúng ngay tại quê nhà. Do Đó, đền đã được khởi lập từ xa xưa. Hiện
nay, phần còn lại của đền mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn.

Những tư liệu về vua Đinh Tiên Hoàng rất nhiều, chính sử và
truyền thuyết dân gian đã ghi lại và âm hưởng chung  là ca ngợi trí tuệ, sức
mạnh và công lao to lớn của ông đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, mở nền
chính thống của nước ta sau hàng nghìn năm nô lệ.

Trên đất quê hương ông hiện nay vẫn còn rất nhiều truyền
thuyết, địa danh liên quan tới thời ấu thơ của của Đinh Tiên Hoàng cũng như
Nguyễn Bặc, Đinh Điền, những vị danh tướng cùng quê Đại Hữu với vua Đinh Tiên
Hoàng.

Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, quay về hướng
Đông.

Trước mặt đền là núi Mã Yên có hình dáng giống cái yên ngựa.
Trên núi có lăng mộ vua Đinh. Đền vua Đinh được xây dựng theo kiểu
đăng đối trên trục thần đạo. Bắt đầu từ hồ bán nguyệt và kết thúc ở Chính điện.

Hồ bán nguyệt là một hồ nước xây dựng theo kiểu kiến trúc
cung đình xưa. Trong hồ thả hoa súng. Sau Minh Đường – Hồ Bán Nguyệt là bức
bình phong.

Cổng ngoài dẫn vào đền- Ngọ môn quan là ba gian lợp ngói,
Trên vòm cửa cong có hai con lân vờn mây. Phía trên cổng là hai tầng mái che
tám mái. Mặt trong cổng ghi bốn chữ “Tiền triều phụng khuyết”.

Toà thứ hai là Nghi môn (cổng trong) với 3 gian dựng bằng gỗ
lim. Qua Nghi môn ngoại, dọc theo đường thần đạo đến Nghi môn nội. Các họa tiết
trang trí của Nghi môn nội giống như Nghi môn ngoại.

Đền thờ có hai lớp cửa vào đền cũng tương tự như hai vòng
thành Hoa Lư xưa. Đi hết chính đạo, qua hai trụ cột lớn là đến sân rồng.
Giữa sân rồng có một long sàng bằng đá chung quanh chạm nổi. Hai bên sập rồng
có hai con nghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối.

 

 

 

 Phía sau long sàng là điện thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, gồm
Bái đường, Thiêu hương và Chính điện.

Tòa bái đường để bàn thờ cộng đồng. Thiêu hương có kiến trúc
theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh: Nguyễn Bặc, Đinh
Điền, Trịnh Tú, Lưu Cơ.

Chính điện có 5 gian. Ngai thờ Vua Đinh Tiên
Hoàng được đặt ở chính giữa, sơn son thếp vàng. Ngai được đặt trên bệ với
tượng rồng tạc giống như rồng nơi long sàng. Tượng Vua Đinh Tiên
Hoàng được đúc bằng đồng đặt trên bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối.

 Đầu sân rồng có một lư hương bằng đá đặt trên bệ đá nguyên khối.

 

 

 Sau lư hương là long sàng bằng đá có mặt và thành xung quanh chạm nổi, dài 1,8m, rộng 1,4m.

 Hai bên long sàng có hai con nghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối. Đây được coi là long sàng đá đẹp nhất, có giá trị nhất Việt Nam.

 Đặc biệt, mặt long sàng thể hiện một hình tượng độc nhất vô nhị trong lịch sử điêu khắc Việt Nam, đó là rồng mang bàn tay phụ nữ. Chiếc long sàng này cùng long sàng trước Ngọ môn quan của đền đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.

 Từ sân rồng bước lên là khu đền thờ chính. Đây là một kiến trúc gồm Bái đường có 5 gian, tiếp đến là Thiêu hương với kiến trúc theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Ðinh. Hết toà Thiêu hương là chính cung có 5 gian, nơi thờ vua Ðinh và các con.

 Phía sau khu đền thờ chính là nơi thờ phụ thân và phụ mẫu của vua Đinh, một khu nhà có 5 gian.

 Các nhà nghiên cứu đánh giá, đền thờ Vua Ðinh Tiên Hoàng là một công kiến trúc độc đáo với giá trị nổi bật là các tác phẩm chạm khắc gỗ và đá có niên đại từ thế kỷ 17 – 19.

 Cận cảnh các chi tiết chạm khắc gỗ giàu tính nghệ thuật ở tòa Bái đường.

 Ngoài hai chiếc long sàng Bảo vật quốc gia, đền thờ Vua Đinh có những bức tượng nghê đá được coi là chuẩn mực cho việc tạo hình linh vật Việt Nam.

 Khuôn viên đền có nhiều tán cây đại thụ, các vườn cây ăn quả, cây cảnh đan xen nhau càng tôn thêm vẻ đẹp, sự tôn nghiêm của ngôi đền thiêng.

 Cũng như các di tích khác thuộc cố đô Hoa Lư, đền Vua Đinh nằm trong quần thể Di sản thế giới Tràng An đã được UNESCO công nhận năm 2014.

Hai bên bệ đá có hai con rồng chầu, tạc theo kiểu yên ngựa.
Trên bức đại tự có ghi hàng chữ: “Chính thống thủy” với ý nghĩa ca ngợi Đinh Bộ
Lĩnh là người mở nền chính thống. Hai bên cột giữa có treo câu đối: “Cồ Việt Quốc
đương Tống Khai Bảo – Hoa Lư đô thị Hán Tràng An” (Nghĩa là: Nước Đại Cồ
Việt sánh ngang với nước Tống – Kinh đô Hoa Lư bề thế như kinh
đô Tràng An ).

Gian bên phải thờ tượng thái tử Hạng
Lang và Đinh Toàn, là hai con thứ của Vua.

 Gian bên trái thờ tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn, là
con trưởng của vua.


Đền vua Đinh Tiên Hoàng là một công trình kiến trúc độc đáo trong nghệ
thuật chạm khắc gỗ dân gian thế kỷ 17; là công trình nghệ thuật đặc sắc với nhiều
cổ vật quý hiếm được bảo tồn, như gạch xây cung điện có khắc chữ Đại Việt quốc,
cột kinh Phật khắc chữ Phạn, các bài bia ký…

Đền vua Lê Đại Hành

Đền Vua Lê Đại Hành là một di tích lịch sử văn hóa
cấp Quốc gia, thuộc quần thể di tích cố đô Hoa Lư, toạ lạc ở xã Trường
Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đền nằm cách đền vua Đinh
Tiên Hoàng 300 mét.

Tham khảo thêm  Đền Tuần Quán, phường Yên Ninh, nơi thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Lẫm Sơn Công chúa Khâm Sai và đức Thánh Trần

Đền được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, nhưng có quy mô
nhỏ hơn đền Vua Đinh.

Qua Nghi môn ngoại (cửa ngoài) 3 gian là đường chính đạo lát
gạch. Bên trái là một hòn non bộ lớn, cao 3m tượng hình chim phượng múa, mỏ
quay vào đền. Bên phải là nhà Tiền bái, ở mặt tiền có hòn non bộ “Hổ phục”
với gốc cây duối tuổi thọ trên 300 năm. Bên trái nhà Tiền bái là hòn non bộ có
dáng “voi quỳ” được khắc hai chữ Hán “Bất di”.

Nghi môn nội (cửa trong) cũng 3 gian, hai bên có hai vườn
hoa, tiếp đó là hai dãy Nhà vọng. Ở giữa vườn hoa bên phải có hai non bộ
“Phượng ấp”, bên trái là hòn non bộ “Long Mã”. Ở sân rồng gần
gian giữa của Bái đường có long sàng bằng đá.

Phía trước Chính điện thờ vua Lê Đại Hành

 Đền thờ vua Lê Đại Hành

 Tượng thờ vua Lê Đại Hành

 Tượng thờ hoàng hậu Dương Vân Nga

Lệ hội đền vua Đinh là một trong những lễ hội đặc sắc, có
giá trị văn hóa tâm linh sâu sắc. Cứ đến ngày 8 tháng 3 Âm Lịch hằng năm, khách
tứ phương lại đổ về để viếng đền. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 8-10
tháng 3. 

Lễ hội Đền vua Đinh, Đền vua Lê (Lễ hội Trường Yên) được tổ
chức hằng năm tại Cố đô Hoa Lư (thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh
Bình), nơi tọa lạc của hai ngôi đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành,
cùng các nhân vật lịch sử có liên quan đến hai triều đại Đinh – Tiền Lê.

Tương truyền, sau khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về
Thăng Long, nhân dân địa phương đã xây dựng đền thờ trên nền móng cũ của cung
điện để tưởng nhớ công đức của hai vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Lễ hội
Trường Yên được cộng đồng dân cư nơi đây tổ chức cũng nhằm mục đích ghi nhận những
công lao to lớn của vua Đinh, vua Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Xưa kia, việc chuẩn bị lễ hội hết sức công phu, những người
tham gia lễ hội cùng nhau đóng góp công sức, nên mâm lễ tế vua tấm long tri ân
của cộng đồng. Ngày nay, khi điều kiện vật chất được cải thiện, mỗi người tham
gia lễ hội đều chuẩn bị một mâm lễ riêng để tế vua, khiến cho việc sắp lễ chung
của làng không còn được cầu kỳ như trước.

Lễ hội diễn ra từ ngày 8 – 10 tháng 3 (Âm lịch), gồm những
nghi thức chính sau:

Lễ mở cửa đền: được tiến hành trước khi diễn ra lễ hội một
ngày (ngày 7 tháng 3) để cúng tế thần linh và hai vua, xin được tổ chức lễ hội.
Những người thực hiện công việc này là các bậc cao niên có uy tín của làng, am
hiểu về truyền thống.

Lễ rước nước: là nghi thức mở đầu cho ngày khai hội (ngày 8
tháng 3). Đây là hoạt động được đông đảo quần chúng và nhân dân địa phương tham
gia. Đoàn rước nước khởi hành từ đền vua Đinh, tới bến sông Hoàng Long, rồi xuống
thuyền ra đến cây Nêu – Vị trí lấy nước cho vào chóe. Khi đoàn rước về tới đền,
một phần nước được đưa vào nội cung để làm lễ mộc dục, phần còn lại được dâng
lên ban thờ vua và để đến lễ hội năm sau.

Lễ mộc dục: tức lễ tắm thần vị, bao sái tượng vua Đinh, vua
Lê. Trước khi tiến hành công việc này, dân làng Trường Yên dâng lễ cáo yết thần
linh, xin phép được thực hiện. Khăn dùng để bao sái tượng thường có màu đỏ; sau
khi bao sái bằng nước trắng (rước từ sông Hoàng Long) sẽ bao sái bằng nước
thơm.

Lễ dâng hương: diễn ra ngay sau khi hoàn thành lễ mộc dục, tại
đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và đền thờ vua Lê Đại Hành. Đoàn tế dâng hương có
chủ tế, bồi tế, chấp sự và tiến hành theo trình tự: dâng hương, cúc cung bái,
dâng rượu tuần, đọc lời chúc.

Lễ tế: cũng được tiến hành tại đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng
và Lê Đại Hành. Để chuẩn bị cho lễ tế, nhân dân Trường Yên cử người có học thức
cao của làng, am hiểu lịch sử soạn bài văn tế có nội dung gắn với tiểu sử, công
trạng của các vị vua lúc sinh thời. Khi đọc xong, bài tế được hóa ngay trong buổi
lễ.

Cờ lau tập trận: là một tiết mục diễn xướng gợi nhớ về thời
niên thiếu của vua Đinh. Trong hội hiện nay, có khoảng 60 em học sinh của xã
Trường Yên tham gia diễn tích Cờ lau tập trận. Trước đó, người phụ trách đưa
các em vào đền để tế lễ vua, xin phép được diễn tích này. Người phụ trách tế
xong, các em nhỏ lần lượt vào lễ vua rồi ra diễn. Diễn xong, đoàn trở lại đền lễ
tạ vua, nhằm cầu cho bách gia trăm họ được bình an, đất nước muôn đời hưng thịnh.

Kéo chữ Thái Bình: được thực hiện bởi nhiều người chia làm
các đội, mỗi đội khoảng 50 – 60 người, mặc đồng phục. Mỗi người tự chuẩn bị một
chiếc gậy tre dài khoảng 1,5m, quấn giấy xanh, đỏ, trắng, cắt tua. Người kéo chữ
chân quấn xà cạp, đi giầy vải, thắt lưng, đầu chít khăn có đính kim sa. Khi đã
xếp thành chữ đã định trước (chữ Thái Bình), trống vang lên dồn dập, đoàn người
kéo chữ đứng yên, lúc này chữ “Thái Bình” xuất hiện.

Ngoài các nghi lễ gắn với tôn giáo, tín ngưỡng, Lễ hội Trường
Yên còn có sức hấp dẫn đặc biệt bởi các sinh hoạt văn hóa mang tính đặc thù,
tiêu biểu như: thi bơi chải và thi đấu vật. Đây là các hoạt động không chỉ mang
tính giải trí, rèn luyện sức khỏe mà còn để ghi nhớ công lao của những danh tướng
dưới thời vua Đinh, như ông Vận Dần đại vương (cai quản thủy quân) hay ông Cầm
Trà đại vương (cai quản bộ binh)…

Lễ hội Trường Yên đã tái hiện lại toàn bộ cuộc đời và sự
nghiệp của vua Đinh Tiên Hoàng, từ thuở thơ ấu đến khi khai quang đế nghiệp. Lễ
hội thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và lòng kính trọng đối với bậc
tiền nhân đã có công dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất giang sơn về một mối, xây dựng
nên nhà nước quân chủ trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam.Lễ hội còn có
vai trò đặc biệt trong đời sống tinh thần của cộng đồng, đem lại những giá trị
tích cực cho bản thân mỗi người dân và là niềm tự hào của người dân. Mọi người
đến với lễ hội đều mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với mình, gia đình và
làng xóm…

Bên cạnh đó, Lễ hội chứa đựng nhiều thông tin sử liệu quan
trọng, góp phần làm rõ một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam, khẳng định bản
lĩnh dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học của lễ hội, Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa Lễ hội Đền vua Đinh, Đền
vua Lê vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014.

Ths Nguyễn Thy Ngà tổng hợp

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.