Connect with us

Văn Hóa & Du Lịch

Đền Cuông – nơi ghi dấu những phút bi tráng cuối cùng của vua An Dương Vương – Thục Phán

Published

on








Căn cứ vào sử sách còn lưu truyền, thì Đền Cuông (thuộc xã Diễn Châu – Nghệ An) là nơi chôn cất và thờ cúng An Dương Vương, một trong những vị vua ở buổi đầu dựng nước.

Đền Cuông thuộc địa bàn xã Diễn An, huyện Diễn Châu, cách
thành phố Vinh khoảng 30 km về phía Bắc, nằm trên núi Mộ Dạ, một ngọn núi thuộc
dãy Đại Hải, cận kề quốc lộ 1A.

Đền Cuông là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp hạng,
đồng thời cũng là một danh thắng nổi tiếng – nơi kết hợp hài hòa giữa kiến trúc
và cảnh sắc thiên nhiên như thể đã có một sự thỏa thuận trước giữa tạo hóa và
bàn tay con người.

Sự tích về An Dương Vương cũng như chuyện tình của công chúa
Mỵ Châu với Trọng Thủy đã đi vào lòng người dân xứ Nghệ từ xa xưa. Căn cứ vào sử
sách còn lưu truyền, thì Đền Cuông (thuộc xã Diễn Châu – Nghệ An) là nơi chôn cất
và thờ cúng An Dương Vương, một trong những vị vua ở buổi đầu dựng nước.

Mối tình và sự kết thúc của một triều đại

Vua An Dương Vương Thục Phán nổi tiếng với tài binh lược và
đặc biệt gắn liền với ông là ngôi thành Cổ Loa huyền thoại. Không chỉ vậy, ngôi
thành này còn gắn liền với vị thần Kim Quy và nỏ thần. Bắt đầu từ đó, đất nước
Âu Lạc thời bước vào thời kỳ hưng thịnh và không lo nạn giặc ngoại xâm.

Vào cuối đời Tần, Triệu Đà gốc Hán chiếm cứ Uất Lâm (Quý Huyện
– Quảng Tây), Nam Hải (Quảng Châu – Quảng Tây), Tượng Quận (Quảng Tây), lập nước
Nam Việt, xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung. Triệu Đà mang mộng xâm lấn mở mang
bờ cõi nên y nhiều lần đem quân nhằm thôn tính nước Âu Lạc, thế nhưng mấy lần
đem quân sang đều bị thất bại bèn lập kế cầu hòa.

Thục An Dương Vương không những chấp nhận mà còn gả con gái yêu là Mỵ Châu cho
Trọng Thủy, con trai vua Triệu Đà. Sau khi được “nhạc phụ” tin tưởng, Trọng Thủy
bắt đầu ý đồ ăn cắp lẫy nỏ thần và báo về cho vua cha.

Có lẫy nỏ thần trong tay, chắc thắng sẽ đánh bại Âu Lạc, Triệu
Đà hí hửng cất quân đánh. Do chủ quan có nỏ thần hộ mệnh, giặc đến sát chân
thành mà quân Thục vẫn đủng đỉnh không thèm nghênh chiến, nên thua to. Mất
thành, An Dương Vương cùng con gái chạy vào Nghệ An lánh nạn.

 

Đền thờ An Dương Vương (Đền Cuông) ở Diễn Châu, Nghệ An

nơi người dân xứ Nghệ tỏ lòng thành kính với vị vua An Dương Vương

Một số sách sử Nghệ An chép rằng: Sau khi vua mang theo con
gái là công chúa Mỵ Châu lên ngựa phóng về phương Nam, tới nơi bờ biển chắn
ngang, đường bị cắt đứt, đò giang không thấy bóng người, An Dương Vương kêu lên
rằng: “Trời đã bỏ ta, hỡi sứ giả đại giang mà ta đã gặp, hãy cứu ta!”.

Từ mặt nước, thần Kim Quy nhô lên và nói: “Bệ hạ đang mang
theo kẻ thù trên lưng ngựa. Cớ sao còn để làm gì?”. Thục An Dương Vương rút kiếm
định chém đầu Mỵ Châu, thì nàng khẩn khoản lạy thưa: “Nếu vì lòng phản bội mà hại
phụ vương thì sau khi chết con sẽ trở thành cát bụi. Nhưng có hiếu nghĩa mà chết
oan, thì con sẽ trở thành ngọc quý…”. Vừa dứt lời, An Dương Vương chém Mỵ Châu.

Công chúa Mỵ Châu nằm trên cát trắng, máu nàng chảy xuống biển,
những con trai hớp được, cô lại trong lòng thành ngọc quý lấp lánh kỳ diệu. Những
sự kiện trên diễn ra ở núi Mộ Dạ, tống Cao Xá, phủ Diễn Châu.

Như vậy, có thể thấy, dòng truyền thuyết về An Dương Vương
trên mảnh đất Nghệ An đã thu hút không chỉ những câu chuyện về các nhân vật
chính trong truyền thuyết mà ngay cả những mẩu chuyện về vết tích quân tướng của
vua Thục lưu lại nơi đây.

Đó có thể là chuyện về một hiện vật kỳ lạ (như chuyện tảng
đá gạo trên núi Mộ Dạ), hoặc là chuyện về nghề nghiệp làm vàng mã hay tục dùng
vàng mã trong cỗ bàn cúng tế.

Niềm tin về sự hiện diện của Thục phán An Dương Vương thuở
xa xưa đã ăn sâu vào tâm khảm những người dân xứ Nghệ. Dù là chuyện làm ăn, dù
là chuyện phong tục, dù là để lý giải những hiện tượng kỳ lạ của tự nhiên, họ đều
nhìn thấy ẩn hiện phía sau là bóng dáng vị vua huyền thoại ấy.

Đền Cuông được kiến trúc theo kiểu chữ “Tam”. Tam quan đồ sộ,
cổ kính rêu phong. Cổng giữa có ba lầu, chằng chịt rễ cây si đeo bám khiến cho
cảnh trí càng thêm u tịch. Tòa trung điện xây theo kiểu chồng diêm 8 mái, còn
các tòa khác trong đền đều có kiến trúc 4 mái, đầu đao cong vút.

Các công trình của đền đều đồ sộ, cột to, tường dày vững chãi nhưng không thô
vì các chi tiết, hoa văn được chạm đắp tinh tế toát lên vẻ đẹp thanh thoát. Đền
Cuông được xây dựng trên một vị trí thông thoáng, giàu chất sử thi. Trên núi Mộ
Dạ ngày nay là cả một cánh rừng thông bạt ngàn.

Sau núi là biển cả mênh mông, ngày đêm rì rào sóng vỗ. Ở
phía Bắc chân núi là cửa Tư Hiền gắn với sự kiện bi hùng của đất nước – nơi có
ngôi mộ công chúa Mỵ Châu. Từ đền Cuông nhìn về hướng Tây là núi Mụa có dáng
voi phục, đăm đắm chầu về đền.

Nhìn về tổng thể kiến trúc Đền Cuông được xây dựng theo kiểu
chữ “Tam”. Trải qua hàng nghìn năm, tam quan hiện nay đã chằng chịt rễ
cây si leo bám, càng tạo nên nét cổ kính cho ngôi đền.

Tòa trung điện theo kiểu chồng diêm 8 mái, các tòa khác
trong đền đều có kiến trúc 4 mái, đầu đao cong vút. Các công trình đều đồ sộ, cột
to, tường dày vững chắc nhưng không thô vì các chi tiết, hoa văn được đắp, chạm
tinh tế, mà lại toát lên vẻ đẹp nhẹ nhàng, thanh thoát.

Thượng điện đặt ban thờ Thục An Dương Vương, qua khoảng sân
hẹp sang trung điện đặt ban thờ Cao Lỗ, tướng giúp vua chế tác nỏ thần.

Đền Cuông có nhiều di vật quý: trống, chiêng, tượng thờ, đồ
tế khí… Nơi đây còn lưu giữ nhiều tư liệu bằng chữ Hán trên các bức hoành
phi, cột, trụ biểu nhắc nhở con cháu, muôn dân luôn nhớ ân đức Thục An Dương
Vương.

Đền Cuông được xây dựng trên một vị trí thông thoáng, giàu
chất sử thi. Trên núi Mộ Dạ ngày nay là cả một cánh rừng thông bạt ngàn. Sau
núi là biển cả mênh mông, ngày đêm rì rào sóng vỗ. Ở phía Bắc chân núi là cửa
Tư Hiền gắn với sự kiện bi hùng của đất nước – nơi cha con Thục An Dương Vương
trên đường chạy giặc gặp bước đường cùng đã được Rùa Vàng hiển linh rẽ sóng mở
đường cho vua cha về với biển.

Tục truyền ở trên núi này có hơn 50 tướng sĩ của vua Thục
trong bước đường cùng đã tuẫn tiết ở đây. Theo truyền thuyết, sau khi chém Mỵ
Châu, An Dương Vương phi ngựa lên đỉnh núi Mộ Dạ. Từ trên đó, Ngài đã cởi mũ, cởi
cờ, cởi áo bào, tháo kiếm và yên ngựa rồi tung ra bốn phía. Kỳ lạ thay, tất cả
các thứ đó biến thành 5 ngọn núi có hình giống như cái mũ, cái kiếm, chiếc vành
khăn… châu tuần quanh núi Mộ Dạ. Không những thế,

Ngài còn dẫm mạnh chân xuống một tảng trên đỉnh núi và để lại
một vết chân rồi mới gieo mình xuống biển tự vẫn. Nơi ấy một thời gian sau nổi
lên phiến đá có hình bàn cờ tướng và dân đi biển thi thoảng vẫn thấy hình bóng
An Dương Vương cùng thần Kim Quy ngồi đánh cờ trên đó…

Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, đền bị
hư hại khá nhiều, miếu thờ Mỵ Châu và tường của đền bị bom phá tan. Nhiều năm
liền lễ hội đền Cuông bị lãng quên.

Mãi đến năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của chủ tịch
Hồ Chí Minh, đền Cuông mới được trùng tu một cách quy mô, và “hoạt động” trở lại.
Năm 1995, sau một thời gian dài gián đoạn, Lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại,
với quy mô và tầm ảnh hưởng lớn, thu hút sự quan tâm của của không chỉ người
dân ở Nghệ An.

Thăm Đền Cuông trên núi Mộ Dạ bất chợt ngẫm câu thơ của Tố Hữu
“… Trái tim lầm chỗ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc/ Nên nỗi cơ đồ đắm
biển sâu” lại thấy thương cho Mỵ Châu và mối tình oan nghiệt của nàng.

Vào ngày đẹp trời, đứng trên núi Mộ Dạ phóng tầm mắt ra bốn
phương mới thấy được hết những điều kỳ thú của một vùng non xanh nước biếc hữu
tình. Sách xưa đã từng liệt kê trong số 8 cảnh đẹp của “Đông Yên Nhị Châu”
(vùng đất thuộc tổng Yên Thành xưa) thì có 6 cảnh đẹp thuộc về Diễn Châu, một
trong số các cảnh đẹp đó là Dạ Sơn Linh Tích (Dấu thiêng núi Mộ Dạ).

Hằng năm, vào các ngày 14, 15,16 tháng Hai âm lịch diễn ra lễ
hội Đền Cuông. Đây là lễ hội lớn không chỉ của cộng đồng cư dân vùng Diễn Châu
mà còn cả đối với cộng đồng cư dân cả nước để nhớ tới ân đức của Thục An Dương
Vương. Vào dịp lễ hội, khách thập phương ở mọi miền đất nước tụ hội về đây.

Những người con Diễn Châu xa quê cũng cố gắng thu xếp để về
thăm quê vào đúng dịp này. Theo lễ tục, chiều ngày 14 tháng Hai là Lễ yết cáo để
tạ ơn Thục An Dương Vương và trời đất; đêm ngày 14 là Lễ yến vị diễn ra mang đậm
màu sắc tâm linh đồng thời phản ánh rõ nét văn hóa ẩm thực của cả vùng; sáng
ngày 15 diễn ra hoạt động khá quan trọng của lễ hội Đền Cuông, đó là phần rước
kiệu từ đình Xuân Ái (Diễn An), nhà thờ họ Cao (Diễn Thọ) ra Đền Cuông, lễ rước
thường diễn ra rất sôi động, thu hút sự chú ý của mọi người; chiều 15 tháng Hai
là phần Lễ tạ…

Sau phần lễ tục là phần hội, phần này diễn ra từ ngày 15 đến
hết ngày 16 tháng Hai âm lịch. Ở lễ hội Đền Cuông, có nhiều hoạt động văn hóa
dân gian như: chọi gà, cờ người, vật, đánh đu… cùng các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thể thao như hát chầu văn, thi nét đẹp Đền Cuông, bóng bàn, kéo co,
chọi gà, leo núi…

Người dân Diễn Châu cũng như người dân khác trong tỉnh và cả
nước đến với lễ hội Đền Cuông không chỉ là dịp cầu phúc cầu tài mà còn là dịp để
lòng người ghi nhớ đoạn kết của câu chuyện Loa Thành: An Dương Vương đem công
chúa Mỵ Châu trốn kẻ thù, tới Diễn Châu thì dừng lại.

Nhận ra sự thật, vua chém con gái yêu rồi theo thần Kim Quy
đi về phía biển… Truyền thuyết và lịch sử, thực và hư, những dấu tích đã rêu
phong, đã hoen mờ cùng thời gian, chỉ còn lại đó là một Đền Cuông linh thiêng
và lòng ngưỡng vọng của nhân dân cũng đủ để rút ra bao điều đáng chiêm nghiệm…

Đến với lễ hội Đền Cuông du khách còn có thể đi thăm các chứng
tích, nhất là các địa danh như núi Kiếm, núi Đầu Cân ở xã Nghi Thiết (Nghi Lộc),
núi Mụa (núi Mũ) ở xã Diễn Phú, núi Mã Yên (Yên Ngựa) ở xã Diễn Thọ (Diễn
Châu)… Đến với Đền Cuông là đến với một danh thắng có nhiều phong cảnh đẹp, đắm
trong huyền thoại thiêng liêng đậm chất bi hùng lịch sử. Đó cũng là cách trở về
cội nguồn, được hòa mình vào hồn thiêng sông núi của nước non Âu Lạc.

 Đền Cuông là ngôi đền cổ có lịch sử hình thành gắn với
một giai thoại lạ về Thục Phán – An Dương Vương, người sáng lập nhà nước
Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam.

 Năm 208 TCN, do mất cảnh giác, Thục An Dương Vương bị Triệu Đà đem quân
bất ngờ tấn công, phải rút lui về phương Nam và tuẫn tiết tại Cửa Hiền,
phía Bắc chân núi Mộ Dạ. Để tưởng nhớ Ngài, nhân dân vùng Diễn Châu đã
lập miếu thờ ở Cửa Hiền.

 Theo truyền thuyết, sau ngày lập miếu thờ, mỗi khi màn đêm buông xuống
lại có những đốm lửa lập lòe trên sườn núi Mộ Dạ. Các bậc cao niên trong
vùng luận rằng, đó chính là linh hồn của vua Thục muốn yên ngự trên
sườn núi.

 Từ niềm tin đó, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và rước linh hồn Ngài
về để thờ phụng. Đó chính là câu chuyện lịch sử về đền Cuông – ngôi đền thờ An Dương Vương trên núi Mộ Dạ.

 Trải qua thăng trầm lịch sử, đền Cuông đã có một thời gian dài bị rơi
vào quên lãng. Đến năm 1990 đền được trùng tu một cách quy mô và năm
1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều lời đồn về sự linh thiêng của ngôi đền.

 Đúng ngày khai mạc Lễ hội đền Cuông 1995, trong khi mọi người đang ngắm
nhìn màn cưỡi ngựa diễu hành của một nông dân, thì bất ngờ một con hạc
trắng hạ cánh trên tay người cưỡi ngựa. Giữa sự chứng kiến của hàng ngàn
người, con hạc khoe dáng mà không hề tỏ ra sợ hãi.

 Người dân tin rằng, con hạc trắng chính là hóa thân của Mỵ Châu – con gái
An Dương Vương Thục Phán – về tham gia lễ hội cùng mọi người. Sau đó,
hạc được rước vào đền, cho đậu ở một nơi trang trọng, có không gian
thoáng để người người chiêm ngưỡng.

 Đúng một ngày sau khi lễ hội kết thúc, hạc cũng chết. Điều này càng
khiến dân chúng tin rằng con hạc có mối liên hệ với câu chuyện cổ xưa về
tấm lòng trong sạch và cái chết oan khốc của nàng Mỵ Châu.

 Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia, hạc đã được mang ra Hà
Nội để nhồi xác và sau đó được đưa vào lồng kính chuyển về trưng bày ở
đền Cuông. Ngày nay, con hạc đã trở thành một linh vật, được nhiều người
chiêm bái khi ghé thăm ngôi đền.

 Tại lễ hội đền Cuông 1996, ở bờ biển Cửa Hiền phía sau đền, một con cá
voi chết dạt vào bờ, ở nơi được cho là có miếu thờ An Dương Vương khi
xưa. Dân chúng lại tin rằng chuyện này ứng nghiệm với truyền thuyết sau
khi giết Mỵ Châu, An Dương Vương gieo mình xuống biển Cửa Hiền.

 Lễ an táng xác cá voi năm ấy có sự tham gia của hàng vạn người với những
nghi thức trang trọng nhất. Ngày nay, nhiều du khách về tham quan đền
Cuông cũng không quên ghé qua mộ cá voi thắp nén nhang, như để tưởng nhớ
đến công ơn của vị vua năm xưa…

 Một phần của Đền Cuông

 

Rate this post
Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Văn Hóa & Du Lịch

Đi du lịch Cần Giờ 1 ngày với loạt kinh nghiệm siêu HOT bạn có muốn thử?

Published

on

By


Nằm ngay gần Sài Gòn, Cần Giờ chính là cái tên hấp dẫn mà bạn không nên bỏ lỡ, nếu đang muốn đổi gió và tận hưởng chuyến du lịch 1 ngày với nhiều trải nghiệm thú vị.

Ở Sài Gòn nếu như muốn “ về vùng biển vắng” thì Cần Giờ và Vũng Tàu chính là hai địa điểm gần nhất, tuy nhiên nếu như muốn tiết kiệm thời gian và có thể khám phá được nhiều địa điểm hay ho, cảnh quan phong phú thì chắc chắn Cần Giờ chính là lựa chọn lý tưởng vì vừa có biển vừa có rừng. Đi du lịch Cần Giờ 1 ngày bạn sẽ có cơ hội  khám phá hàng tá thứ “xịn sò” lại còn thoải mái về thời gian khi nơi này nằm sát sàn sạt Sài Gòn. 

 

 Cần Giờ là điểm đến hấp dẫn cho chuyên vi vu 1 ngày từ Sài Gòn. Ảnh:@mja_phuong

Hướng dẫn di chuyển khi đi du lịch Cần Giờ 1 ngày

Cần Giờ chỉ nằm cách trung tâm TP Hồ Chí Minh 50km, chỉ gần 2 tiếng chạy xe, nơi đây được coi là thiên đường của các loại hải sản thơm ngon và những cảnh rừng ngập mặn xanh mướt. Đường bờ biển dài 13km với bãi biển và hệ thống sông ngòi dày đặc mang đến cho Cần Giờ cảnh quan độc đáo. Nếu như bạn đang muốn đi du lịch Cần Giờ 1 ngày thì nên tranh thủ di chuyển từ sáng sớm để tránh kẹt xe cũng như có nhiều thời gian khám phá hòn đảo thú vị này. 

 

 Thời gian di chuyển từ Sài Gòn xuống Cần Giờ chỉ gần 2 tiếng. Ảnh:@kyubichann

Từ Sài Gòn bạn có thể di chuyển đến Cần Giờ bằng xe buýt hoặc phương tiện cá nhân. Nếu đi buýt bạn có thể bắt tuyến buýt số 75 tại khu vực công viên 29/3 đến thẳng Cần Giờ hoặc bạn bắt tuyến buýt 20 đến phà Bình Khánh. Bạn qua phà bắt tiếp tuyến buýt 90 đến thẳng Cần Giờ. Di chuyển bằng xe buýt có ưu điểm là bạn không cần tìm đường, tránh nắng nôi nhưng bạn cần chú ý giờ giấc tuyến cuối để kịp về thành phố. 

 

 Xe máy là phương tiện di chuyển linh hoạt nhất khi đi Cần Giờ. Ảnh:@xuyenxuyenxunu

Với phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe máy, việc đi du lịch Cần Giờ 1 ngày của bạn sẽ trở nên linh hoạt hơn.  Bạn xuất phát từ trung tâm thành phố đi theo hướng cầu Tân Thuận sau đó rẽ trái vào đường Nguyễn Văn Linh, tiếp tục đi vào đường Huỳnh Tấn Phát rồi chảy về hướng phà Bình Khánh. Một điều thú vị khi đi bằng xe máy là khi tới phà bạn có thể thoải mái dừng chân, ăn uống nghỉ ngơi trước khi lên phà, khu vực phà Bình Khánh có khá nhiều quán ăn ngon với mức giá chỉ từ 25.000đ. Lưu ý khi đi Cần Giờ 1 ngày bằng xe máy là bạn hãy chạy đúng tốc độ, đổ  xăng đầy bình và đừng quên chống nắng, giá vé qua phà Bình Khánh là 5.000đ/xe máy.

 

 giá qua phà Bình Khánh là 5000đ/xe máy. Ảnh: @tun.teppi

7 điểm đến Hot nhất để thăm quan Cần Giờ trong 1 ngày 

Đầm dơi nghệ

Địa điểm này nằm ở khu du lịch sinh thái Vàm Sát thuộc xã Lý Nhơn của huyện Cần Giờ. Dơi ở đây là giống giơi có bụng vàng, thân khá lớn và có sải cánh rộng lên đến 1 mét, là một trong những loại dơi hiếm trên thế giới. Ở đầm dơi nghệ, bạn sẽ được khám phá thế giới động vật hoang dã đầy thú vị, có thể ngắm những chú dơi treo mình vắt vẻo trên những ngọn đước rất lạ mắt.

 

 Đầm Dơi Nghệ là điểm đến rất hấp dẫn. Ảnh: vamsat

 

 Bạn cũng có thể đi dạo ngắm cảnh trong khuôn viên Vàm Sát. Ảnh:@phanduongtu

Tháp Tang bồng 

Địa điểm này cũng nằm bên trung khu du lịch sinh thái Vàm Sát, tháp Tang Bồng được làm bằng thép có chiều cao 26m với dạng cánh cung hướng thẳng lên trời. Ngọn tháp này có tất cả 4 tầng quan sát, bạn có thể lên tháp sau khi đi qua 130 bậc thang, từ đây có thể thoải mái chiêm ngưỡng cảnh sắc của toàn bộ rừng đước ngập mặn Cần Giờ từ trên cao.

 

 Từ tháp Tang Bồng có thể quan sát toàn bộ khu rừng ngập mặn. Ảnh:@hieuricky.

Khu Lâm viên đảo khỉ

Đây cũng là điểm đến hấp dẫn khi đi du lịch Cần Giờ 1 ngày, khu Lân viên đảo khỉ nẳm ở KDL Rừng Sắc thuộc xã Long Hòa, nơi đây là thiên đường của hơn 1500 cá thể khỉ hoang giã sinh sống trong cánh rừng ngập mặn. Khỉ ở đây rất dạn người và hiếu động chúng thường chải chuốt cho nhay và có những nếp sinh hoạt rất thú vị. Tuy nhiên, khi thăm quan bạn nên cẩn thận giữ kỹ tư trang bởi những chú “hầu” lém lỉnh có thể đột nhiên lấy mất một vài món đồ nếu bạn không để ý. 

 

 Khỉ khá thân thiện và dạn người. Ảnh:@mtephguillen

Khu căn cứ Cách mạng Rừng Sác

Điểm đến này nằm ở Di tích lịch sử Chiến khu Rừng Sác còn được biết đến với tên gọi là Lâm Viên Cần Giờ. Với diện tích 2000 ha, đây chính là nơi  Đội Đặc công Rừng Sác từng hoạt động và có những chiến công hào hùng. Hiện tại người ta sẽ xây dựng và tái hiện lại quang cảnh sinh hoạt và chiến đấu của các chiến sĩ đặc công xưa nên bạn có thể thăm quan và tìm hiểu thêm về một thời oai hùng của bộ đội ta tại Cần Giờ. 

 

 Một góc của khu Căn cứ Cách mạng Rừng Sác. Ảnh:@vynau

Chợ hải sản Hàng Dương

Là xứ biển sát Thành phố Hồ Chí Minh nên một khi đã đi du lịch Cần Giờ 1 ngày, chắc chắn bạn khó lòng bỏ qua cơ hội thưởng thức hải sản cũng như mưa về làm quà, chợ Hàng Dương chính là địa điểm bạn nên ghé thăm. Tại khu chợ này có rất nhiều loại hải sản tươi ngon, từ tôm, cua, cá mực cho đến các loại ốc, ghẹ, bạch tuộc… Giá cả tại đây khá mềm, chỉ từ vài chục đến vài trăm ngàn. Đặc biệt, ngoài mua mang về bạn có thể ăn trực tiếp tại khu hải sản chế biến sẵn với đủ món hấp dẫn như ốc len xào dừa, mực nướng sa tế, sò nướng mỡ hành, càng ghẹ sốt chua cay, …

 

 Khu hải sản chợ Hàng Dương rất đông đúc. Ảnh:@junzhao1911

 

 Các món chế biến sẵn cực kỳ háp dẫn. Ảnh:@annietaste

Lăng ông Thủy Tướng

Lăng ông thủy Tướng nằm ở đường Duyên Hải, thị trấn Cần Thạnh, đây là nơi cúng bái và tri ân Cá Ông loài cá chuyên cứu người khi đi biển theo quan niệm từ xa xưa. Lăng có trưng bày một bộ xương Cá Ông dài đến 12 mét được phục dựng từ năm 2001. Nếu đến Cần Giờ vào dịp rằm tháng 8 Âm Lịch bạn sẽ có cơ hội tham gia lễ hội truyền thống Nghinh Ông rất độc đáo. 

 

 Xương cá Ông trưng bày ở lăng ông Thủy Tướng. Ảnh:TH

Biển 30/4 

Đã đi du lịch Cần Giờ 1 ngày thì nhất định phải ra bãi biển, biển 30/4 là bãi biển lớn nhất ở Cần Giờ . Tại đây bạn có thể thoải mái hít hà gió biển, thả dáng chụp ảnh check-in tại con đường đá và cầu nổi của Phương Nam Cần Giờ resort để mang về những bức ảnh deep thần sầu. Bãi biển 30/4 không trong vắt như các bãi biển khác bởi nước nhiều phù sa, tuy nhiên bãi cát mịn với không gian đẹp chính là điểm cộng khiến nơi này được yêu thích. 

 

 Biển 30/4 rất đẹp và là điểm check-in hấp dẫn. Ảnh:@ruamin.

Nếu như có một ngày bỗng dưng bạn muốn “đổi gió” tạm rời xa những ồn ào, xô bồ ủa Sài Thành để về với biển và không gian xanh trong lành thì hãy kéo team và đi du lịch Cần Giờ 1 ngày nhé, nơi này chính là thiên đường tuyệt vời để bạn bung xã đứt phanh mà chẳng cần lên kế hoạch quá nhiều đấy. 

Hồng Thọ 

Theo Báo Thể Thao Việt Nam 

Rate this post
Continue Reading

Văn Hóa & Du Lịch

Di nguyện của vị Nữ tướng anh hùng Nguyễn Thị Định

Published

on

By








Là một nữ tướng nổi danh trên thế giới, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Định có ước nguyện được làm người lính theo hầu dưới trướng Hai Bà Trưng, thể hiện sự tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc và của người phụ nữ Việt Nam khi về với tiên tổ.

 Tự hào vì được hương khói cho những nữ anh hùng

Chúng tôi đến thăm đền Hát Môn (Phúc Thọ, Hà Nội – nơi có đền
thờ Hai Bà Trưng và miếu thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Định) đúng dịp rằm tháng Chạp
ngay trước Tết Nguyên đán Canh Tý 2020. 

Như những ngày lễ khác hằng tháng, sau khi đặt lễ, thắp
hương tưởng nhớ đến Hai Bà Trưng và bà Ba Định, bà Duy Thị Minh đứng lặng trước
tấm bia trong nhà tưởng niệm bà Nguyễn Thị Định đọc lại từng câu, từng chữ xen
lẫn niềm tự hào của người phụ nữ và cũng là người dân làng Hát Môn. Bà Minh tâm
sự: “Là người dân địa phương, chúng tôi tự hào lắm vì được tận tay hương
khói cho những vị nữ anh hùng hào kiệt của đất nước.

Cứ ngày rằm, mồng Một hay các ngày lễ Tết, ngày giỗ của Hai
Bà Trưng và bà Ba Định, chúng tôi đều sửa soạn lễ nhỏ kính dâng. Mấy năm nay tuổi
già, chân tôi thường bị đau nhức, đi lại rất khó khăn, nhưng tôi không thể bỏ
thói quen đến đền Hát Môn được”. 

Bà Minh chia sẻ, bà sinh ra và lớn lên tại thôn 1, làng Hát
Môn, nơi có dòng Hát Giang mà Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết. Tưởng nhớ công lao của
hai vị nữ anh hùng mở đầu cho trang sử đấu tranh giành độc lập suốt ngàn năm Bắc
thuộc, nhân dân địa phương đã lập đền thờ Hai Bà ngay tại mảnh đất này. Sau
này, nhà tưởng niệm Nữ tướng Nguyễn Thị Định được lập tại đây, người dân địa
phương lại càng thêm tự hào. Mỗi lần chứng kiến người dân từ khắp nơi đến tưởng
nhớ các Bà, tôi lại thấy mình vinh dự quá, vì là người dân được sinh sống ở mảnh
đất linh thiêng này.

Cụ Từ Trần Duy Giáp thắp hương trong nhà Tưởng niệm bà Ba Định

Cụ Trần Duy Giáp là người được người dân trong làng Hát Môn
tiến cử làm Thủ từ ở ngôi đền Hát Môn linh thiêng này. Cụ Giáp cho biết, ngày Tết
đang đến rất gần, dân làng đang tất bật chuẩn bị cho các ngày lễ lớn trong năm
của Đền như ngày 23 tháng Chạp là ngày lễ chuẩn bị đăng quang lên ngôi vua của
Hai Bà Trưng, ngày 6/3 âm lịch là ngày chính giỗ của Hai Bà và ngày 4/9 là ngày
Hai Bà thắng trận về khao quân tại nơi này.

Vào những ngày lễ, dân làng Hát Môn và người dân nhiều nơi về
đây dự lễ. Những dịp này, những người trông coi, đèn nhang khu di tích này đều tự
hào giới thiệu về Hai Bà Trưng và sự ra đời nhà tưởng niệm bà Ba Định…

Sống làm Tướng, chết thành Thần

Theo cụ Trần Văn Giáp, ngày 6/3/1990, bà Ba Định về thăm
làng Hát Môn và dự lễ kỷ niệm 1950 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và tưởng niệm
ngày Hai Bà tuẫn tiết tại Hát Môn. Khi ấy, dân làng đã dâng mời bà Ba Định một
mâm bánh trôi đúng bằng số tuổi 70 của bà lúc ấy.

Bánh trôi là sản vật truyền thống được dâng cúng vì tương
truyền đây là loại  bánh mà Hai Bà Trưng đã ăn xong trước khi mất. Hôm ấy,
bà Ba Định cũng thưởng thức rất ngon. Bà vô cùng tự hào và khâm phục tinh thần
quật khởi và lòng yêu nước bất khuất của Hai Bà Trưng. 

Bà bày tỏ ý nguyện khi “về với tiên tổ”, muốn làm
một người lính theo hầu dưới trướng của Hai Bà Trưng, thể hiện sự tiếp nối truyền
thống anh hùng, bất khuất của dân tộc và của người phụ nữ Việt Nam” và
mong được theo hầu Hai Bà Trưng ở nơi đây.

Sau lần ấy, bà Định không kịp về lại nơi này lần nào nữa.
Theo di nguyện của bà Nguyễn Thị Định, người dân Hát Môn đã lập nhà tưởng niệm
Nữ tướng ngay trong khuôn viên đền thờ Hai Bà Trưng” – cụ Giáp bùi ngùi nhớ
lại.

Ông Kim Văn Quý, người có 30 năm công tại chính quyền xã.
Sau khi nghỉ hưu, ông Quý lại được bà con tín nhiệm giao làm Phó Ban bảo vệ di
tích đền Hát Môn trong nhiều năm qua.

Bao dấu ấn thay đổi của địa phương, dường như ông đều được
chứng kiến. Ngày Tết Nguyên đán cận kề, nhưng trong câu chuyện của ông Quý dường
như ông không mấy lo lắng, tất bật ngược xuôi sắm Tết mà chỉ say sưa nói về những
ngày lễ liên quan đến ngày tưởng nhớ Hai Bà Trưng và bà Định. “Tết thì Tết,
cứ phải lo việc cho đền Hát Môn và dâng kính các Bà chu toàn đã” – ông Quý
cho biết.

* “Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau
rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần”, nhà sử học Trần
Văn Giàu viết trong lời đề tựa tập sách “Nhớ chị Ba Định”

* “Ngay buổi đầu khởi nghĩa chống ách ngoại xâm từ thế
kỷ thứ I, nước ta đã có Hai Bà Trưng – hai vị vua nữ anh hùng. Đến thế kỷ 20 đất
nước lại có bà Ba Định – Nữ tướng đầu tiên của thời đại Hồ Chí Minh. Làng chúng
tôi vinh dự được là nơi đèn nhang mỗi ngày cho các vị nữ anh hùng nên ai cũng tự
hào”, cụ Trần Duy Giáp, Thủ từ Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội)

* “Mỗi lần đến đền Hát Môn tưởng nhớ các vị nữ anh
hùng, tôi lại thêm một lần nhắc nhở mình phải luôn sống thật tốt, làm người có
ích để xứng đáng là con cháu của Hai Bà Trưng và bà Nguyễn Thị Định. Tôi cũng
luôn làm gương người mẹ, người bà thật tốt để con cháu mình noi theo”,
bà Duy Thị Minh, thôn I, xã Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Hà Nội)

Những chiếc xe ô tô, xe máy mang biển số của Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương cũng lần lượt rẽ vào Đền. Người dân ở làng thì cứ lác
đác đến từ sáng tới chiều. Người dân quanh vùng, lúc nào xong việc nhà, việc đồng
áng là tranh thủ mang lễ tới Đền kính viếng Hai Bà Trưng và bà Ba Định.

Trong khuôn viên đền Hát Môn với vẻ cổ kính, uy nghiêm, thi
thoảng tiếng thỉnh chuông của người đến lễ lại vang lên, trong làn khói hương bảng
lảng là khuôn mặt của những người dân tỏ lòng tôn kính và tưởng nhớ các vị nữ
anh hùng của dân tộc.

Cụ Giáp cho biết, nhiều lần cụ chứng kiến những người phụ nữ
trong quân phục quân đội, những người dân tỉnh xa đến thắp hương cho bà Định
xong lại sụt sùi khóc khi xem lại di nguyện, những bức ảnh lưu niệm cũ của bà Định
ở nhà Tưởng niệm.

Ông Quý bảo: “Tất cả du khách phương xa về đền Hát Môn,
chúng tôi đều giới thiệu thêm về Nhà tưởng niệm bà Ba Định. Được sự giúp đỡ của
chính quyền và người thân của bà Định ở tỉnh Bến Tre, nhà tưởng niệm bà Định của
chúng tôi có lưu khá đầy đủ hình ảnh và tư liệu của bà Ba Định.

Với người dân làng Hát Môn chúng tôi, bên cạnh Hai Bà Trưng
thì bà Nguyễn Thị Định cũng như vị thần của toàn dân làng Hát Môn vậy. Chúng
tôi chẳng ước gì, chỉ nghĩ làm sao con cháu trong làng Hát Môn này đều sống xứng
đáng với anh linh của Hai Bà Trưng và bà Ba Định, nơi mà chúng tôi vẫn thờ tự,
hương khói tưởng nhớ mỗi ngày.

Nữ tướng Nguyễn Thị Định (1920 – 1992) quê ở xã Lương Hòa,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là một trong những người lãnh đạo phong trào
Đồng Khởi Bến Tre và là người chỉ đạo trực tiếp cuộc Đồng Khởi đợt I ngày
17/1/1960 thắng lợi, mở đầu cho phong trào Đồng Khởi trong tỉnh và toàn miền Nam sau
này. Sau cuộc Đồng Khởi Bến Tre, bà làm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Mặt trận Giải
phóng tỉnh Bến Tre. Năm 1974, bà được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân
dân Việt Nam.

Sau ngày thống nhất đất nước, bà giữ nhiều chức vụ quan trọng
của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội: Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước…

Ngày 30/8/1995, Nữ tướng Nguyễn Thị Định được Chủ tịch nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Rate this post
Continue Reading

Văn Hóa & Du Lịch

Khu bảo tồn thiên nhiên lung Ngọc Hoàng

Published

on

By


Cách TP. Vị Thanh (tỉnh Hậu Giang) 40km về phía đông bắc, Khu bảo tồn thiên nhiên lung Ngọc Hoàng gây ấn tượng với bất cứ ai khi lần đầu đặt chân đến, bởi vẻ đẹp hoang sơ, hữu tình.



Các
nhà báo, du khách thích thú và tranh thủ
sáng tác để có những tác phẩm đẹp, độc đáo.



Lục bình
– một trong những món rau rừng “đặc sản” tại lung Ngọc Hoàng.

Từ các tháp canh, phóng tầm mắt ra xa, hướng về những dải rừng
tràm xanh ngút, những dòng kênh lượn quanh, du khách
tưởng như lạc vào một thế giới màu xanh đầy quyến rũ. Những chiếc
vỏ lãi composite lướt nhanh qua đám lục bình, trong làn
nước nâu đỏ đặc trưng của rừng tràm, đưa du khách len lỏi qua
các cánh rừng bạt ngàn, mang đến cảm giác sảng khoái
khi được đắm mình giữa bốn bề thiên nhiên xanh mát, trong
lành.




Món
đặc sản ở lung Ngọc Hoàng: Cá lóc, cá trê nướng
trui.



Những chiếc
vỏ máy composite đưa du khách khám phá lung Ngọc Hoàng.

Đến lung Ngọc Hoàng, du khách sẽ thêm phần thú vị, khi
cùng nông dân câu cá, kéo vó, đặt
lờ… thưởng thức các món đặc sản hấp dẫn: Cá lóc,
cá trê đồng nướng trui; chả cá thát lát hấp lá
cách; đọt choại nhúng lẩu mắm…



Sen được trồng
dọc theo các con kênh, ao dưới tán rừng tràm khiến cho
du khách càng “say” với sinh cảnh nơi đây.



“Tìm
về chốn bình yên”.



Đời sống kinh
tế những hộ dân đang sống trong khu vực ổn định nhờ trồng chuối, dưa hấu,
đu đủ,…

Với không gian êm ả và thanh bình, nơi đây là
điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách.

Nguồn : Báo ảnh đất mũi 

Rate this post
Continue Reading

Trending

You cannot copy content of this page